Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số 300/2024/HNGĐ-ST

Ngày 21 - 8 - 2024

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mai Khanh và ông Trần Xuân Thành

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 177/2024/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 296/2024/QĐST ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trọng C, sinh năm 1980; địa chỉ: K, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982; nơi đăng ký hộ khẩu trước khi xuất cảnh: K, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; hiện trú tại: A Lahy ST A Australia; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai anh Nguyễn Trọng C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2007 anh C kết hôn với chị H và có 03 con chung. Năm 2018 anh C và chị H ly hôn theo Quyết định số 01/2018/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò. Năm 2019, anh C và chị H kết hôn lại, việc kết hôn hoàn toàn tự nguyên, không bị lừa dối, ép buộc và có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An vào ngày 10/10/2019. Sau khi kết hôn lại, hai vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Tháng 10 năm 2020, chị H đi nước ngoài, tháng 2/2023 chị H sang Austraylia sinh sống và làm việc, cuộc sống vợ chồng càng có nhiều mâu thuẫn hơn, không thể hàn gắn được. Anh C thấy rằng hôn nhân không hòa hợp, hai bên không có tiếng nói chung, không thể duy trì tình trạng hôn nhân nên làm đơn đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Anh C và chị Nguyễn Thị H có ba con chung tên Nguyễn Trọng P, sinh ngày 25/6/2008, Nguyễn Thị Thủy T, sinh ngày 8/7/2012 và Nguyễn Thị Thảo T1, sinh ngày 11/12/2014. Hiện nay, hai con chung Thủy Tiên và Thảo T1 đang sống cùng anh C, con chung Nguyễn Trọng P đang sống cùng chị H tại Australia. Ly hôn, anh C có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai con chung Thủy Tiên và Thảo T1; đối với con chung Nguyễn Trọng P, hiện đang học tập, sinh sống ở A nên đề nghị Tòa án giao cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, anh C không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến của chị Nguyễn Thị H:

Tại bản tự khai đề ngày 19/6/2024, chị H thừa nhận điều kiện, thời gian kết hôn, ly hôn và kết hôn lại, nguyên nhân và mâu thuẫn vợ chồng đúng như anh Nguyễn Trọng C đã trình bày. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Trọng C có ba con chung tên Nguyễn Trọng P, sinh ngày 25/6/2008, Nguyễn Thị Thủy Tiên s ngày 8/7/2012 và Nguyễn Thị Thảo T1, sinh ngày 11/12/2014. Hiện nay, con chung Thủy Tiên và Thảo T1 đang sống cùng anh C, còn Nguyễn Trọng P đang du học ở A và sống cùng chị H. Ly hôn chị H thống nhất như ý kiến của anh C: đề nghị Tòa án giao hai con chung Thủy Tiên và Thảo T1 cho anh C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; giao con chung Nguyễn Trọng P cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị H hiện đang sinh sống và làm việc tại Austraylia, không thông thạo ngôn ngữ, đường đến Đ tại Australia cách xa, đi lại khó khăn, chi phí tốn kém, không có điều kiện để thực hiện theo yêu cầu của Tòa án nên chị H gửi bản tự khai từ Australia về Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và đồng thời cung cấp các mẫu chữ kí để phục vụ cho việc giải quyết vụ án khách quan, đúng pháp luật.

Theo kết quả trả lời xác minh tại Công văn số 16567/QLXNC-P3 ngày 29/7/2024 của Cục Q – Bộ C1: Chị Nguyễn Thị H có thông tin xuất cảnh ngày 18/6/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Tại Kết luận giám định số 20/KL-KTHS(Đ3-TL) ngày 29/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh N: “Chữ ký, chữ viết “Nguyễn Thị H” dưới mục “Người khai” trên “BẢN TỰ KHAI” đề ngày 19/6/2024 ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị H trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 là do cùng một người ký, viết ra."

Các con chung Nguyễn Thị Thủy T2 và Nguyễn Thị Thảo T1 có nguyện vọng tiếp tục được ở bố, con chung Nguyễn Trọng P có nguyện vọng tiếp tục được ở với mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của anh Nguyễn Trọng C, cho anh C được ly hôn với chị Nguyễn Thị H; giao 02 con chung cháu Nguyễn Thị Thủy T2 và Nguyễn Thị Thảo T1 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; giao con chung Nguyễn Trọng P của vợ chồng cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành; dành quyền khởi kiện về cấp dưỡng, chia tài sản cho các đương sự khi có yêu câu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thủ tục tố tụng:

[1.1] Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn chị Nguyễn Thị H có hộ khẩu thường trú tại khối C, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; hiện đang làm việc và sinh sống tại Australia nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình.

[1.2] Thủ tục hòa giải: Bị đơn chị Nguyễn Thị H hiện vắng mặt tại nơi cư trú, đang sinh sống và làm việc ở Australia. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị H vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.

[2] Nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Trọng C và chị Nguyễn Thị H1 kết hôn vào ngày 10/10/2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa anh Nguyễn Trọng C và chị Nguyễn Thị H1 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn lại, hai vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Tháng 10 năm 2020, chị H đi nước ngoài, tháng 2/2023 chị H sang Austraylia sinh sống và làm việc, cuộc sống vợ chồng càng có nhiều mâu thuẫn hơn, không thể hàn gắn được. Khi biết anh C làm đơn yêu cầu ly hôn, chị H cũng đồng ý. Xét thấy, hôn nhân giữa anh Nguyễn Trọng C và chị Nguyễn Thị H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn Trọng C. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho anh Nguyễn Trọng C được ly hôn chị Nguyễn Thị H.

[2.2] Con chung: Anh Nguyễn Trọng C và chị Nguyễn Thị H có 03 con chung Nguyễn Trọng P, sinh ngày 25/6/2008, Nguyễn Thị Thủy Tiên s ngày 8/7/2012 và Nguyễn Thị Thảo T1, sinh ngày 11/12/2014. Ly hôn anh C có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung T và T, đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Trọng P cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị H cũng đồng ý với nguyện vọng của anh C. Xét thấy, sự thống nhất thỏa thuận giữa anh C và chị H về việc đề nghị Tòa án giao 02 con chung Thủy Tiên, Thảo T1 cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Trọng P cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ tuổi trưởng thành phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế của anh C, chị H, phù hợp với điều kiện sinh sống, học tập của các con chung, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh C và chị H đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền yêu cầu cấp nuôi con chưa thành niên cho các bên khi có yêu cầu. Hai bên có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

[2.3] Tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Trọng C và chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[3] Án phí: Anh Nguyễn Trọng C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273, các Điều 469 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Trọng C.

  1. Quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Trọng C được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
  2. Con chung:
    1. Giao hai con chung Nguyễn Thị Thủy Tiên sinh ngày 8/7/2012 và Nguyễn Thị Thảo T1, sinh ngày 11/12/2014 cho anh Nguyễn Trọng C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi); giao con chung Nguyễn Trọng P, sinh ngày 25/6/2008 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh C, chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
    2. Cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Trọng C và chị Nguyễn Thị H không yêu cầu. Trong trường hợp vì quyền lợi chính đáng của con chưa thành niên, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
  3. Án phí: Anh Nguyễn Trọng C phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0012814 ngày 02/5/2024.
  4. Quyền kháng cáo:
    1. Chị Nguyễn Thị H đang cư trú ở nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
    2. Anh Nguyễn Trọng C vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND phường Nghi Hòa, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thúy Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 300/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 300/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình C H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger