|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 300/2025/HS-PT Ngày 25 - 6 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Nguyễn Xuân Quang; |
|
Các Thẩm phán: |
Ông Trần Nam Phương; Ông Nguyễn Đình Trung. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2025/TLPT-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Trần Đại N; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2025/HS-ST ngày 20-01-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Bị cáo có kháng cáo: Trần Đại N (tên gọi khác: Không), sinh năm 1989 tại Hà Tĩnh; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Số E, Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân N1, sinh năm 1954, con bà Trần Thị P, sinh năm 1956; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2013 bị Công an huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi đánh bạc (đã nộp phạt ngày 02/4/2013), năm 2016 bị Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi hủy hoại tài sản của người khác (đã nộp phạt ngày 04/11/2016); bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính:
Ngày 18/4/2024, Trần Đại N điều khiển xe mô tô biển số 60H5-6872 đến hồ câu cá của chị Vũ Thị T, tại Tổ H, Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để câu cá. Quá trình câu cá N và chị T xảy ra mâu thuẫn cự cãi, sau đó N bỏ về. Khi về N bực tức nên đã nảy sinh ý định mua thuốc diệt cá đổ xuống hồ cá của chị T để trả thù. Thực hiện ý định trên N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 của mình lên trang mạng thương mại điện tử “Shopee” tìm kiếm và đặt mua 02 lọ thuốc diệt cá tạp với giá 161.000 đồng (một trăm sáu mươi mốt ngàn đồng). Đến ngày 21/4/2024, nhân viên giao hàng đến phòng trọ của N giao hàng. Sau khi nhận N mở ra kiểm tra thì thấy chỉ có 01 lọ thuốc diệt cá tạp, bên ngoài có dán tem màu xanh ghi chữ Trung Quốc, dung tích 100ml.
Đến khoảng 14 giờ 00 ngày 24/4/2024, N điều khiển xe mô tô biển số 60H5-6872 đi một mình đến hồ cá của chị T để thăm dò tình hình, sau khi đã chọn được vị trí đổ thuốc xuống hồ cá thì N đi về. Đến khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, N lấy lọ thuốc diệt cá giấu vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô biển số 60H5-6872 đi một mình đến hồ cá của chị T. Khi đến nơi, lợi dụng lúc không ai để ý, N đi ra 01 góc của hồ câu cá chép, lấy lọ thuốc diệt cá ra mở nắp, dùng đá chọc thủng lớp giấy bạc rồi đổ dung dịch màu trắng sữa trong lọ thuốc diệt cá xuống hồ nước đang nuôi cá chép. Sau khi đổ hết dung dịch trong lọ xuống hồ thì N vứt vỏ lọ thuốc này cạnh bờ hồ rồi điều khiển xe mô tô về phòng trọ của mình ngủ.
Đến sáng ngày 25/4/2024, chị T phát hiện cá chép trong hồ bị chết rất nhiều, trên bờ hồ có một lọ bằng nhựa màu trắng nên chị T đã đến Công an phường T trình báo sự việc và nghi ngờ Nghĩa là người đã phá hoại đổ thuốc độc xuống hồ làm chết cá chép. Công an phường T đã mời N lên làm việc. Tại Công an phường, N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ quan điều tra thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng vụ án gồm:
- + 01 (một) lọ nhựa màu trắng, dung tích 100ml, không nhãn hiệu có nắp rời, trên miệng lọ được bao bọc bằng giấy bạc đã bị rách một góc. Trong lọ còn một ít dung dịch màu trắng sữa là lọ đựng thuốc diệt cá, sau khi đổ hết thuốc trong lọ xuống hồ cá, N đã vứt bỏ trên bờ hồ cá.
- + 01 (một) xe mô tô biển số 60H5-6872 là phương tiện N sử dụng đi đến hồ câu cá của chị T để đổ thuốc xuống hồ làm chết cá, chưa làm rõ được nguồn gốc, chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đang tạm giữ.
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 số imel: 3571104914487433 là tài sản của N, N sử dụng lên trang mạng điện tử đặt mua thuốc diệt cá để đổ xuống hồ cá của chị T làm chết cá trong hồ.
- + 01 (một) USB bên trong chứa dữ liệu được camera tại hồ câu cá ghi nhận hình ảnh vào lúc 19 giờ 09 phút ngày 24/4/2024, N đi vào khu vực hồ câu cá, được lưu tại hồ sơ vụ án.
Tại bản kết luận giám định số 961/KL-KTHS ngày 24/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất lỏng không màu (là nước thu trong hồ cá sau khi phát hiện cá chết) chứa trong can nhựa và chất màu trắng chứa trong lọ nhựa màu trắng được niêm phong gửi giám định có chứa Saponin. Saponin là chất độc nhóm IV, độc đối với cá.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 175/KL-HĐĐGTS ngày 06/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, đã kết luận 421,5kg (bốn trăm hai mươi mốt phẩy năm kilogam) cá chép, trị giá 27.397.500đ (hai mươi bảy triệu ba trăm chín mươi bảy ngàn năm trăm đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Chị Vũ Thị T đã nhận số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) do N bồi thường và không yêu cầu bồi thường thêm.
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2025/HS-ST ngày 20-01-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Trần Đại N phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Đại N 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo tự nguyện đi thi hành án hoặc bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Kháng cáo:
Trong thời hạn luật định, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo.
4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 là có căn cứ, đúng quy định.
- Về kháng cáo và hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo mức án 08 (tám) tháng tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; xét thấy, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình, bị cáo kháng cáo cung cấp đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn, hiện đang nuôi mẹ là người khuyết tật nặng không có khả năng lao động; cha bị cáo là người có công cách mạng, tham gia kháng chiến chống Mỹ là tình tiết mới tại cấp phúc thẩm. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa theo hướng giữ nguyên hình phạt nhưng cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh:
Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, nội dung Bản án sơ thẩm; bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tại cấp sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- - Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo nộp đơn xác nhận có hoàn cảnh khó khăn; có mẹ Trần Thị P là người khuyết tật nặng không có khả năng lao động (giấy xác nhận khuyết tật ngày 01-11-2013); cha bị cáo ông Trần Xuân N1 là người có công với cách mạng, tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước và tặng Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì là các tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 áp dụng cho bị cáo.
[4] Về kháng cáo và hình phạt:
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội xử phạt bị cáo mức hình phạt 08 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” là có căn cứ. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm được các tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; hiện đang nuôi mẹ già là người khuyết tật nặng thuộc diện được nhận trợ cấp xã hội của Nhà nước. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có 03 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 51, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự và có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội; áp Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2022/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, giữ nguyên mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Trần Đại N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đại N; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2025/HS-ST ngày 20-01-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa về hình phạt do có tình tiết mới.
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Trần Đại N phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Đại N 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (25-6-2025).
Giao bị cáo Trần Đại N cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú của người được hưởng án treo thì được thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
2. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Trần Đại N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Quyết định của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Quang |
Bản án số 300/2025/HS-PT ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự: hủy hoại tài sản
- Số bản án: 300/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Hủy hoại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo
