|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 300/2024/HSST
Ngày: 27/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch và ông Trần Văn Ân
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thái Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông ông Lê Trọng Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 274 /2024/TLST-HS ngày 07/10/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 293/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 và Thông báo dời lịch xét xử tòa số: 01/2024/TB-TA ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Thị Ngân, sinh năm 2004 tại: Ninh Thuận. Giới tính: Nữ. ĐKHKTT: xóm B, xã B, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Hiện trú tại: Ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Dân tộc: Raglai. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân. Học vấn: 09/12. Con ông Mang M và bà Thị D. Bị cáo chưa có chồng con. Tiền án, tiền sự: Không . Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
- Bị hại: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1975. Trú tại: Tổ B, khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.Nội dung chính:
Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 09/10/2023 Thị N điều khiển xe đạp điện đi từ phòng trọ ở ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai đến Công ty P để làm việc. Ngân điều khiển xe đạp điện lưu thông trên đường liên ấp, khi đến khu vực chợ S điều khiển xe đi tắt đường mòn tự phát ra dường 6A Khu công nghiệp B thuộc ấp A, xã S. huyện T, tỉnh Đồng Nai. Do không chú ý quan sát nên phần bên trái xe đạp điện do ngân điều khiển đã va chạm vào phía trước bên phải xe mô tô biển số 59N1-341.95 của chị Phạm Thị T (sinh năm 1974 trú tại: khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển đang lưu thông trên đường 6A theo hướng Công ty S1 đi công ty H. Hậu quả chị N bị thương nhẹ, chị T bị thương nặng được đưa đến bệnh viện Đ điều trị với tình trạng thương tích “Dập xuất huyết não trán hai bên, máu tụ dưới màng cứng bán cầu phải, viêm màng não, hạ natri máu, hạ kali máu, đau nira đầu, chóng mặt, tang huyết áp, đái tháo đường, G, tang men gan (Bút lục số: 75-88).
Sau khi tai nạn xảy ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám nghiệm hiện trường, tạm giữ xe Mô tô biển số 59N1- 341.95 và xe đạp điện. Kết quả khám nghiệm hiện trường như sau:
“Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, được trải nhựa, có vạch sơn tim đường, đường rộng 10m chia hai chiều xe chạy. Tại vị trí tai nạn có đường nhánh nhỏ là đường dân sinh tự mở rộng 1,6m từ dường song hành đổ dốc xuống dường 6A.
Điểm mốc xác định là cột điện. Lấy mép lề dường bên phải theo hướng đi từ công ty S1 đi công ty H làm chuẩn.
- Xe đạp điện ngã nghiêng bên phải trên mặt đường, đầu xe hướng lề trái. Đo từ trục bánh xe trước đến lề đường chuẩn là 7m. Đo từ trục bánh xe sau đến lề đường chuẩn là 6m.
- Xe Mô tô 59N1-341.95 ngã nghiêng bên phải trên mặt đường, đầu xe hướng vào lề trái. Do từ trục bánh xe trước đến lề đường chuẩn là 5,3m, cách trục bánh sau xe đạp điện (1) là 1,3m. Đo từ trục bánh xe sau đến lề đường chuẩn là 4,1m.
- Vết cày xe Mô tô 59N1-341.95 dài 1m, xuất hiện trên mặt đường hướng từ Samlim di H1. Đầu vết cày cách lề đường chuẩn là 4,8m.
- Vết máu nạn nhân đi xe Mô tô 59N1-341.95 diện tích 0,3x0,4m xuất hiện trên mặt đường. T1 vết máu cách lề đường chuẩn 3,6m, cách tâm trục bánh trước xe mô tô (2) là 3,9m.
(*) Cột diện cách tâm trục bánh trước xe đạp điện (1) là 14,2m (Bút lục số: 34-37)
Tại bản kết luận giám định số: 0052/KLTTCT-TTPYĐN ngày 26/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận:
“1. Các kết quả chính:
- Sẹo mổ vùng trán kích thước 34x0,3cm. Tỷ lệ: 02%
- Sẹo mỗ dẫn lưu dỉnh phải kích thước 01x0.5cm. Tỷ lệ: 01%
- Khuyết sọ vùng trán hai bên kích thước 7,7x11,3cm; dáy phập phồng. Tỷ lệ: 31%.
- Nứt sọ chẩm phải dài 10cm, điện não đồ không có ổ tổn thương tương ứng. Tỷ lệ: 16%
- Tổn thương não vùng thái dương phải 3.4x3.8x05cm và vùng trán hai bên 5,6x6,2x9,3cm. Tỷ lệ: 36%
- Tụ máu dưới màng cứng dã điều trị hiện không còn hình ảnh máu tụ. Tỷ lệ: 08%
- Xuất huyết khoang dưới nhện đã điều trị hiện không còn hình ảnh xuất huyết và không di chứng thần kinh. Tỷ lệ: 08%
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Thị T - 1974 tại thời điểm giám định là: 70% (Bảy mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư (Bút lục số: 27-29).
Tại Bản kết luận giám định số 2731/KL-KTHS ngày 03/5/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận dấu vết va chạm như sau:
“1. Xe Mô tô biển số 59N1-341.95 và xe đạp điện có va chạm với nhau. Cơ chế, chiều hướng hình thành dấu vết va chạm: Dấu vết trượt xước, biến dạng các chi tiết phía trước bên phải xe mô tô (bánh trước, cánh yếm) có chiều từ trước về sau, dấu vết trên bánh xe có chiều từ mặt lăn vào tâm bánh phù hợp dấu vết bên trái xe đạp diện (trượt xước bám chất màu trắng mặt ngoài phía sau bên trái yên xe; trượt xước bám chất màu đen cần đạp và trượt xước trục cần đạp) có chiều từ sau về trước, từ trái sang phải.
2. Phía trước bên phải xe mô tô và bên trái xe đạp điện là vị trí va chạm đầu tiên trên các phương tiện. Vị trí va chạm giữa các phương tiện trên mặt dường thuộc phần dường bên phải dường 6A KCN B, hướng từ công ty S1 di công ty H. Khi va chạm xe mô tô lưu thông trên đường F KCN B, hướng từ công ty S1 đi công ty H; xe đạp điện lưu thông từ bên phải sang bên trái đường 6A KCN B (gần như vuông góc với xe mô tô).
3. Ngoài các dấu vết nêu trên, không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe Mô tô biển số 59N1-341.95 và xe đạp điện với phương tiện hay vật nào khác” (Bút lục số 33).
Ngày 15/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Thị N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” để điều tra. Quá trình điều tra bị can dã thành khẩn khai nhận hành vi của minh như đã nêu trên.
2, Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Mio, màu sơn trắng, biển số 59N1-341.95, là của chị Phạm Thị T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho chị T (Bút lục 109). Đối với xe đạp điện màu đỏ đen, là của Thị N nên Cơ quan Cảnh sát diều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho bị can N (Bút lục 108)
3. Về dân sự: Thị Ngân đã tự nguyện bồi thường cho gia đình chị Phạm Thị T 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) để chi phí diều trị thương tích. Gia đình chị T đã có đơn bãi nại, cam kết không thắc mắc, khiếu nại (Bút lục số 90).
4.Truy tố:
4.1. Tại cáo trạng số: 272/CT-VKS-TB ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Thị N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
4.2. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt: Bị cáo Thị N mức án từ 06 đến 08 tháng tù. Về dân sự: Đã giải quyết xong đề nghị Tòa không đề cập.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh:
[2.1] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm của mình như đã nêu ở trên, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 09/10/2023 tại khu vực dường 6A, Khu công nghiệp B, thuộc ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Dồng Nai, Thị N có hành vi điều khiên xe đạp điện qua đường không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn nên đã va dụng vào chị Phạm Thị T đang điều khiển xe mô tô biển số 59N1-341.95 đi đúng phần đường. Hậu quả làm chị T bị tổn thương cơ thể 70% . Hành vi nêu trên của Thị N đã vi phạm vào khoản 23, Điều 8 Luật giao thông dường bộ (gây hậu quả nghiêm trọng) nên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Về trách nhiệm hình sự:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại, bị hại đã có đơn bãi nại và tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, gia đình thuộc hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số, do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 60 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp thể hiện sự nhân đạo của pháp luật
[4]. Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, do đó cần xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, sống tuân thủ pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Xét đề nghị nêu trên của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom thì thấy phù hợp với 01 phần nhận định của Hội đồng xét xử.
[6] Về dân sự: Đã giải quyết xong, tại phiên tòa không ai có yêu cầu gì khác nên HĐXX không phải giải quyết.
[7] Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; Các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 60 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
+ Tuyên bố bị cáo Thị N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
+ Xử phạt bị cáo Thị N 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Thị N cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo đã bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 91 của Luật thi hành án hình sự nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm thì Công an cấp xã đề xuất Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo, đề nghị cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Thị N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trịnh Thị Quyên |
Bản án số 300/2024/HSST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 300/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
