Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 300/2024/HSST

Ngày 25/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị H

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đắc T2

Bà Trần Thị Hồng T3

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương L - CBTA

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy D - Kiểm sát viên.

Ngày 25/10/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 259/TLST-HS ngày 10/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 275/QĐXXST-HS ngày 11/10/2024 đối với bị cáo:

Đàm Văn Q, sinh năm: 1987; HKTT: Thôn A, xã X, Huyện V, tỉnh Hưng Yên; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Đàm Mạnh H (Đã chết); Con bà: Phan Thị T (đi tu); Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo có vợ là Phí Thị X, sinh năm 1987, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

Bị hại: Chị Nguyễn Phương T1, sinh năm 1985

Địa chỉ: F, Y, xã T, huyện T, Hà Nội. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 21/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận N nhận được đơn tố giác của chị Nguyễn Phương T1 (sinh năm 1985, HKTT: T, T, Hà Nội) về việc Đàm Văn Q chiếm đoạt số tiền 90.000.000 đồng qua việc đặt cọc mua 06 cây xoài. Chị T1 đã thực hiện chuyển khoản 03 lần qua Internet banking tại công ty của chị T1 địa chỉ Chung cư C, phường C, quận N, Hà Nội vào các ngày 08/11/2023, 17/11/2023 và 23/11/2023 từ tài khoản của chị T1 vào tài khoản của Q và tài khoản của Trần Đức V (bạn của Q). Đến sáng ngày 24/11/2023, chị T1 liên hệ với Q để nhận cây xoài và Q vẫn hứa hẹn với chị T1 sẽ chuyển cây. Đến trưa ngày 24/11/2023, Q cắt liên lạc với chị T1 và bỏ trốn.

Quá trình điều tra xác định:

Khoảng đầu tháng 11/2023, do có nhu cầu mua cây X1 để trồng nên chị Nguyễn Phương T1 (SN: 1985; HKTT: 6G2CT2 CC Viện Bỏng, Y, T, T, Hà Nội) hỏi một số người thì được đồng nghiệp là anh Cao Văn Q1 (SN: 1984; HKTT: SỐ 2901C HH1 A13, A, H, Hà Nội) giới thiệu cho một người tên là Hoàng Trung K (SN: 1991; HKTT: Tổ 05, P. T, TP., Tuyên Quang) ở Tuyên Quang chuyên bán cây cảnh. Chị T1 đã liên hệ với anh K, qua nói chuyện biết chị T1 ở Hà Nội nên nếu mua cây từ Tuyên Quang thì sẽ vận chuyển xa, do đó anh K đã giới thiệu cho chị T1 một người tên Đàm Văn Q (SN: 1987; HKTT: Thôn A, xã X, H. V, Hưng Yên). Bản thân K cũng đã mua cây của Quyền một số lần. Sau đó, chị T1 đã liên hệ vào số điện thoại của Q và kết bạn nói chuyện qua zalo. Chị T1 nói muốn mua 8 cây Xoài chu vi 200cm trở lên, cao khoảng 8,5m đến 10m. Lúc đó gia đình Q chỉ trồng cây cảnh trang trí không có cây Xoài nên Q đã lên hội nhóm “cây bóng mát miền Bắc” trên mạng xã hội facebook để tìm. Qua tìm hiểu thì có nhà vườn tại Quảng Bình đang bán cây này, Quyền hỏi giá thì được báo 28.000.000đ/1 cây. Quyền đã lấy ảnh của nhà vườn để gửi cho chị T1. Giữa hai bên nói chuyện thống nhất giá giao tận nơi (cả công vận chuyển) là 37.000.000đ/1 cây. Quyền gửi cho chị T1 ảnh 10 cây, chị T1 chỉ chọn được 6 cây nên chị T1 nói lấy 6 cây trước còn 02 cây cho Q tiếp tục tìm được thì sẽ lấy nốt. Tại thời điểm này, do bản thân Q đang nợ nần bên ngoài xã hội nên Q đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị T1 để sử dụng chi tiêu và trả nợ. Mặc dù không có nhà vườn nào bảo đặt cọc tiền nhưng Q vẫn yêu cầu chị T1 đặt cọc trước 10.000.000đ (mười triệu đồng). Ngày 08/11/2023, chị T1 đã chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng A số 7100205457436 chủ tài khoản Đàm Văn Q. Sau khi nhận tiền, Q đã không chuyển tiền để đặt cọc mua cây mà rút tiền để sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Thấy chị T1 dễ tin tưởng chuyển tiền nên Q tiếp tục yêu cầu chị T1 chuyển thêm tiền. Đến ngày 16/11/2023, chị T1 chốt lại mua 6 cây Xoài mà Q đã gửi ảnh trước đó. Tổng trị giá thống nhất là 222.222.000đ (hai trăm hai hai triệu hai trăm hai hai nghìn đồng). Quyền bảo chị T1 đặt cọc tiếp 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Ngày 17/11/2023, chị T1 đã chuyển số tiền 30.000.000đ vào tài khoản ngân hàng A trên của Q. Nhận được tiền, Quyền cũng rút số tiền trên và sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Để tạo thêm lòng tin, Q hẹn chị T1 đến ngày 21/11/2023 sẽ giao cây. Do đã chi tiêu hết tiền, không có tiền đặt cọc mua cây nên đến ngày 20/11/2023, Q đã liên hệ với chị T1 nói dối nhà vườn có người nhà bị chết, xin lùi lịch đến ngày 24/11/2023 (mục đích là để kéo dài thời gian với chị T1). Ngày 23/11/2023, Quyền nói dối chị T1 là thiếu tiền chuyển cho nhà vườn nên không lấy được cây, Q bảo chị T1 ứng trước 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) chuyển cho nhà vườn. Để tạo lòng tin, Q bảo chị T1 chuyển tiền cho nhà vườn với nội dung "Quyen hung yen ck tien cay”, thực tế lúc đó thì Q đã nhờ anh Trần Đức V (SN: 1976; HKTT: TT. V, H. V, Hưng Yên) cho mượn tài khoản để nhận tiền, Q nói với anh V là tài khoản bị lỗi nhờ anh V nhận hộ tiền đặt cọc mua cây của khách. Chị T1 đồng ý nên đã chuyển tiền vào tài khoản tại ngân hàng V1 số 0591000398938 của anh V. Sau khi nhận được tiền, anh V đã báo cho Q, chiều cùng ngày Q đã đến gặp anh V để lấy tiền mặt 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng), số tiền này trong tối ngày 23/11/2023 Q đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Đến sáng ngày 24/11/2023, chị T1 tiếp tục liên hệ với Q để hỏi về cây, Quyền vẫn hứa hẹn sẽ chuyển. Đến trưa ngày 24/11/2023, Quyền đã tắt điện thoại, cắt liên lạc với chị T1. Sau khoảng 1,2 hôm thì đi vào Thành phố Hồ Chí Minh để trốn tránh chị T1. Quyền là lao động tự do, không có chỗ ở cố định, cũng không cho gia đình biết thông tin để liên lạc. Đến tối ngày 07/6/2024, Quyền mở điện thoại thấy có tin nhắn của vợ là Công an quận N triệu tập nên Q đã ra Hà Nội để lên cơ quan Công an làm việc.

Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT đã tiến hành thu thập tài liệu tin nhắn qua zalo giữa chị T1 với Q, xác định việc hai bên trao đổi việc mua bán cây Xoài và có giao dịch chuyển tiền như chị T1 trình báo. Tất cả các lần chuyển tiền chị T1 đều thực hiện tại phường C, quận N, Hà Nội vào ngày 08, 17 và 23/11/2023.

Cơ quan CSĐT đã tiến hành lấy lời khai của anh Cao Văn Q1 và Hoàng Trung K xác định việc chị T1 có liên hệ để hỏi mua cây và được anh K giới thiệu cho Đàm Văn Q. Tiến hành sao kê tài khoản ngân hàng của chị T1 xác nhận có giao dịch chị T1 chuyển số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) vào tài khoản của Đàm Văn Q và 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) vào tài khoản Trần Đức V.

Lấy lời khai của Trần Đức V, xác định ngày 23/11/2023, Q gọi điện thoại cho V nói tài khoản của mình bị khóa nên nhờ V nhận hộ tiền khách chuyển khoản. Sau đó, V nhận được 50.000.000 đồng do chị T1 chuyển đến. Cùng ngày, V đã thông báo cho Q biết. Tối ngày 23/11/2023, Q đến nhà V để lấy lại số tiền trên. V không biết số tiền trên là Quyền chiếm đoạt của chị T1 mà có, do đó không có căn cứ để xử lý đối với V.

Tại cơ quan CSĐT, Đàm Văn Q khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai của bị can phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai người làm chứng và các tài liệu điều tra khác.

Tại bản cáo trạng số 255/CT-VKS ngày 10/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Đàm Văn Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại điện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c Khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đàm Văn Q từ 36 đến 42 tháng tù.

Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền 90.000.000 đồng.

Về vật chứng: Không

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận:

Lần lượt vào các ngày 08/11/2023, ngày 17/11/2023 và ngày 23/11/2023, Đàm Văn Q đã đưa ra thông tin gian dối để chị Nguyễn Phương T1 tin tưởng chuyển số tiền 10.000.000 đồng; 30.000.000 đồng và 50.000.000 đồng đặt tiền mua 06 cây Xoài. Tổng số tiền Q đã chiếm đoạt của chị T1 là 90.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, Q đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết, sau đó Q bỏ trốn vào Thành phố Hồ Chí Minh để trốn tránh.

Bị cáo khai nhận tội. Bị cáo chưa bồi thường cho bị hại là chị Nguyễn Phương T1. Chị T1 yêu cầu bồi thường về dân sự số tiền 90.000.000 đồng.

[3] Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên, do bản thân đang nợ nần bên ngoài xã hội và thiếu tiền để chi tiêu nên đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đó là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ Luật Hình sự.

Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với từng hành vi của từng bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hội đồng xét xử xem xét: Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những phân tích, đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 90.000.000 đồng.

[7] Về vật chứng: Không

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Đàm Văn Q phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Căn cứ theo điểm c khoản 2 Điều 174; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đàm Văn Q 32 (Ba mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về dân sự: Buộc bị cáo Đàm Văn Q phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 90.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất của khoản tiền chưa thi hành án với mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về vật chứng: Không

Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, Bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Bị hại
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Công an quận Nam Từ Liêm;
  • - Chi cục THA dân sự q. Nam Từ Liêm;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Mai Thị Hương

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 300/2024/HSST ngày 25/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 300/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger