|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 300/2024/HNGĐ-ST Ngày 30/9/2024 “V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Phương
Ông Nguyễn Bình Dương
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 30/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 181/2024/TLST-HNGĐ ngày 27/6/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 206/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 178/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/8/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1998 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: thôn T, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú cuối cùng của anh M tại Việt Nam: thôn T, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
Hiện anh M đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: thôn T, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn M kết hôn với nhau ngày 14/3/2016, việc kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Y. Tuy nhiên hiện nay giữa vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Anh M đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, vợ chồng đã sống ly thân với nhau, không quan tâm gì đến nhau, không còn liên lạc với nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Nguyễn Văn M được ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Anh T1, sinh ngày 17/3/2016. Hiện nay cháu T1 đang ở cùng ông bà nội. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Anh T1 cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng và tạm giao cho bà nội Nguyễn Thị T nuôi dưỡng trong thời gian anh M ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con: gia đình tự thỏa thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này.
* Bị đơn là anh Nguyễn Văn M hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh M đến nay Tòa án không nhận được thông tin của anh M.
* Bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn M, anh M hiện nay đang làm việc tại Nhật Bản. Anh M ở nước ngoài nhưng vẫn thường xuyên liên hệ với bà qua điện thoại nhưng về địa chỉ cụ thể của anh M ở Nhật Bản thì bà không biết nên không cung cấp cho Tòa án được.
Bà đã thông báo cho anh M về việc chị N xin ly hôn tại Tòa án thì anh M có ý kiến đồng ý ly hôn và đồng ý nhận nuôi cháu Nguyễn Anh T1. Cháu Nguyễn Anh T1 ở cùng bà từ nhỏ, đề nghị Tòa án khi giải quyết ly hôn thì giao cháu T1 cho anh M nuôi dưỡng và tạm giao cháu T1 cho bà chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian anh M làm việc ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi cháu T1 bà không đề nghị gì.
* Tòa án đã làm việc với cháu Nguyễn Anh T1, cháu có nguyện vọng được ở với bố và bà nội.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị N, bà T xin vắng mặt. Anh M vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N. Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn M.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Anh T1 cho chị Nguyễn Văn M nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị T nuôi dưỡng trong thời gian anh M ở nước ngoài. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị N có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với anh Nguyễn Văn M. Bị đơn anh Nguyễn Văn M có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 2682/QLXNC ngày 26/8/2024 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh - Công an tỉnh B thì anh Nguyễn Văn M đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 03/8/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn anh Nguyễn Văn M được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị N và bà T có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Minh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Bà Nguyễn Thị T là mẹ đẻ của anh M xác định hiện anh M đang ở nước ngoài nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh M ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh M theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn M kết hôn với nhau ngày 14/3/2016 tại UBND xã H, huyện Y, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh M. Xem xét đơn khởi kiện của chị N, HĐXX thấy: chị N xác định hiện nay vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân với nhau, không liên lạc với nhau. Anh M hiện đang ở nước ngoài vợ chồng xa cách, chị N xác định không còn tình cảm. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh M đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, xử cho chị N được ly hôn với anh M.
[4]. Về con chung: chị N và anh M có 01 con chung là cháu Nguyễn Anh T1, sinh ngày 17/3/2016 hiện đang ở cùng với bà nội là Nguyễn Thị T. Chị N có ý kiến đồng ý giao cháu T1 cho anh M nuôi dưỡng. Do anh M đang ở nước ngoài nên bà T là mẹ đẻ anh M đồng ý thay anh M chăm sóc cháu T1 khi anh M ở nước ngoài. Vì vậy để ổn định cuộc sống, đảm bảo quyền lợi của cháu T1 cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho anh M được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu T1 và tạm giao cháu T1 cho bà T chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian anh M ở nước ngoài.
Về cấp dưỡng nuôi con chung các đương sự không không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, chị N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): chị N không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn M.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Anh T1, sinh ngày 17/3/2016 cho anh Nguyễn Văn M trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh Nguyễn Văn M về nước sinh sống hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, chị N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001339 ngày 26/6/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo:
- - Anh Nguyễn Văn M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- - Chị Nguyễn Thị N và bà Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 300/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 300/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ninh ly hôn Minh
