Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 300/2024/HSST

Ngày: 30/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Chon.
  2. Bà Nguyễn Phước Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Quyết Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Lê Văn Chung – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 157/2024/TLST-HS, ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 265/2024/QĐST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 278/2024/QĐST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Thanh T, sinh năm 1995, tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi thường trú: Không đăng ký thường trú; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn L và bà Lê Thị Ngọc M; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Ngày 16/3/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 25/10/2021 chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/6/2023 đến ngày 16/6/2023 bị tạm giam cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Hữu P (C), sinh năm 2002, tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi thường trú: Số C, Huỳnh Minh M1, Tổ C, Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Trương Thị Ngọc T1; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 26/02/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, đến ngày 22/6/2022 chấp hành xong; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/6/2023 đến ngày 16/6/2023 bị tạm giam cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  3. Trần Anh T2, sinh năm 2005, tại tỉnh Long An, nơi thường trú: Không đăng ký thường trú; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 3/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn L và bà Lê Thị Ngọc M; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 18/7/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 (hai) năm về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2023, bị cáo đang chấp hành án; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  1. Bà Huỳnh Thị M2, ông Hồ Ngọc S và bà Hồ Huyền T3; cùng địa chỉ: Tổ D, Áp D, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Tường V, sinh năm 1998; địa chỉ: Tổ D, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  3. Bà Huỳnh Thị Kim P1, sinh năm 1981 và ông Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 1982; địa chỉ: Số E, đường L, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  4. Ông Hoàng Công H2, sinh năm 1977; địa chỉ: Số E, đường N, ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  5. Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1975; địa chỉ: Số C, Tỉnh lộ 8, Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  6. Bà Nguyễn Thị Mỹ U, sinh năm 2001; địa chỉ: Số B, Đường B, Ấp E, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  7. Ông Lương Văn C1 và bà Nguyễn Thị Hồng H3; địa chỉ: Số A, Tỉnh lộ 15, ấp P, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Hoàng Công V1, sinh năm 1985; địa chỉ: Số E, Đường C, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Ông Huỳnh Công H4, sinh năm 1991; địa chỉ: Số F, Đường B, Tổ D, Ấp A, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  3. Bà Lê Huỳnh Kim N, sinh năm 1998; địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: Số F, đường L, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại bản cáo trạng số 148/CT-VKS.CC ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Trần Thanh T, Nguyễn Hữu P và Trần Anh T2 về hành vi phạm tội như sau:

Do cần tiền tiêu xài, bắt đầu từ giữa tháng 4/2023, Trần Thanh T đã nhiều lần rủ Nguyễn Hữu P và Phan Văn B (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đi trộm cắp tài sản, P và B đồng ý. Với thủ đoạn lợi dụng ban đêm, T đã cùng với P hoặc Bé điều khiển xe gắn máy lưu thông qua nhiều tuyến đường, thuộc địa bàn huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm nhà dân có sơ hở trong việc trông giữ, đột nhập vào trộm cắp tài sản. Sau khi lấy được tài sản, T đem qua tỉnh Bình Dương nhờ Trần Anh T2 (em ruột T) đưa đi tiêu thụ. Sau khi bán được tài sản, T và P hoặc Bé chia nhau.

Với thủ đoạn nêu trên, Trần Thanh T cùng với Nguyễn Hữu P hoặc Phan Văn B đã thực hiện tổng cộng 07 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện C. Đồng thời, T đã đem tài sản nhờ Trần Anh T2 mang đi tiêu thụ được 06 lần, cụ thể:

Vụ thứ 1: Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 25/4/2023, T điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vario, màu cam, biển số 59M-636.93 chở Phan Văn B di chuyển trên các tuyến đường thuộc địa phận xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh tìm tài sản để trộm cắp. T phát hiện căn nhà của bà Huỳnh Thị M2, địa chỉ: Nhà không số, Đường B, Tổ D, Ấp D, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh không khóa cửa nên T dừng xe lại. Lúc này, B đứng ngoài, T trực tiếp đi vào, lén lút chiếm đoạt được số tài sản gồm: 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc mang biển số 59K2 – 776.70, 01 điện thoại di động hiệu Vivo (không rõ loại máy) và 01 điện thoại di động hiệu Sam sung (không rõ loại máy).

Ngày 26/4/2023, T mang chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng đen bạc, biển số 59K2 – 776.70 qua tỉnh bình D nhờ Trần Anh T2 đem đi bán thì T2 đồng ý. T2 đem chiếc xe trên đi bán cho một người đàn ông lạ mặt gần ngã tư A với giá 5.000.000 đồng và đưa tiền cho T. T chia cho B số tiền 2.000.000 đồng, còn lại số tiền 3.000.000 đồng T sử dụng tiêu xài cá nhân hết. T2 không lấy tiền công đi bán xe cho T. Riêng 02 điện thoại di động trộm cắp mà có do không bán được nên T đưa cho B sử dụng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 128/KL-HĐĐGTS ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận:

  • 01 (Một) xe gắn máy hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc mang biển số: 59K2-776.70, số máy: JA39E2444278, số khung: RLHJA3924MY419077, trị giá 12.000.000 đồng.
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Sam sung, không rõ loại máy. Do điện thoại không rõ đặc điểm về chủng loại và thông số kỹ thuật nên Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự từ chối định giá.
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Vivo, không rõ loại máy. Do điện thoại không rõ đặc điểm về chủng loại và thông số kỹ thuật nên Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự từ chối định giá.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 12.000.000 đồng.

Vụ thứ 2: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 02/5/2023, T một mình thuê xe ô tô G (không rõ đặc điểm) đi từ nhà đến khu vực gần quán C2, thuộc ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, T xuống xe đi bộ xung quanh khu vực này tìm tài sản để trộm cắp. Đến rạng sáng ngày 03/5/2023, T phát hiện bên trong dãy nhà trọ, địa chỉ: Số F Đường D, Tổ C, ấp T, xã T, huyện C vắng người. Lúc này, T đi vào dãy trọ thì phát hiện bên trong phòng trọ của ông Phan Quốc Đ có dựng 01 chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Mio, biển số 70B1 – 655.41 (thuộc sở hữu của ông Nguyễn Tường V), chìa khóa còn cắm trên xe, không có người trông coi. T lén lút chiếm đoạt chiếc xe gắn máy rồi đẩy ra ngoài. Sau đó, T sử dụng xe gắn máy vừa trộm được để làm phương tiện đi gây án tiếp theo.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 141/KL-HĐĐGTS ngày 12 tháng 6 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 (Một) chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Mio màu đen bạc mang biển số: 70B1-655.41, dung tích xi lanh: 114cm³, số máy: 23B3010066, số khung: 3B308Y010066, trị giá: 6.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 6.000.000 đồng.

Vụ thứ 3: Ngày 11/5/2023, Trần Thanh T điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Mio, biển số 70B1 – 655.41, Bé điều khiển xe gắn máy loại Dream (chưa rõ đặc điểm, biển số) đi trên các tuyến đường thuộc địa phận xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh tìm tài sản để lấy trộm. Khi đến trước căn nhà của bà Huỳnh Thị Kim P1, tại địa chỉ: Số E đường L, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì T phát hiện cửa cổng của nhà bà P1 đang mở nên dừng lại. Lúc này, B đứng phía ngoài, T đi vào trong sử dụng 01 cây tua vít cậy phá khóa cửa phòng khách, đột nhập vào trong nhà chiếm đoạt được 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số 50V2 – 412.49 dựng tại phòng khách và 01 điện thoại di động hiệu Samsung M53, 01 điện thoại di động hiệu S1 A51 để tại phòng ngủ của bà P1. T để lại chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Mio, biển số 70B1 – 655.41 tại hiện trường rồi điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vision màu xanh, biển số 50V2 – 412.49 cùng B điều khiển xe Dream tẩu thoát.

Ngày 12/5/2023, T đem xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số 59V2-412.49 và 02 điện thoại di động vừa trộm được qua tỉnh Bình Dương đưa cho T2 nhờ đi bán giúp, T2 đồng ý. T2 đem đi bán cho một người đàn ông lạ mặt gần ngã tư A được 6.000.000 đồng và đưa tiền cho T. T chia cho B 3.000.000 đồng, chia cho T2 1.000.000 đồng nhưng T2 không lấy nên còn lại 3.000.000 đồng T sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 154/KL-HĐĐGTS ngày 16 tháng 6 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận:

  • 01 (Một) xe gắn máy hiệu Honda Vision màu xanh mang biển số: 50V2-412.49, dung tích xi lanh: 108cm³, số máy: JF58E0384642, số khung: RLHJF5805EY498709, trị giá: 14.000.000 đồng.
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu S1 M53, trị giá: 6.000.000 đồng.
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu S1 A51, trị giá: 3.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 23.000.000 đồng.

Vụ thứ 4: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 18/05/2023, T điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vario màu cam, biển số 59M-636.93 chở P1 đi trên các tuyến đường thuộc địa bàn xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh tìm tài sản để trộm cắp. Khi đang lưu thông trên đường N thì T quan sát thấy bên trong nhà của ông Hoàng Công H2 tại địa chỉ: Số E, đường N, ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh có dựng 01 xe gắn máy hiệu Honda loại KF250 (Kiểu dáng xe Honda SH), biển số 50Y1 – 321.14 không người trông giữ. T kêu P1 đứng đối diện ngôi nhà của ông H2 để cảnh giới, T một mình đi bộ vào trong sử dụng 01 cây tua vít cạy phá cửa phòng khách, đột nhập vào trong nhà. T chiếm đoạt được số tài sản gồm: 01 xe gắn máy hiệu Honda loại KF250, biển số 50Y1-321.14 dựng tại phòng khách; số tiền Ngân hàng N1 9.000.000 đồng và 01 chiếc nhẫn vàng 18K trọng lượng 02 chỉ, tại phòng ngủ của ông H2. Sau đó, T cùng P1 tẩu thoát về nhà của P1.

Đến sáng ngày 19/5/2023, T đem chiếc xe gắn máy hiệu Honda loại KF250, biển số 50Y1-321.14 và 01 chiếc nhẫn vàng 18K trọng lượng 02 chỉ qua phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương đưa cho Trần Anh T2 đi tiêu thụ. T2 bán chiếc xe và nhẫn vàng trên cho một người đàn ông lạ mặt tại khu vực Ngã tư A được số tiền 15.000.000 đồng. T chia cho T2 1.000.000 đồng nhưng T2 không lấy. T chia cho P1 số tiền 5.000.000 đồng, số tiền còn lại T tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 142/KL-HĐĐGTS ngày 12 tháng 6 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận:

  • 01 (Một) xe gắn máy hiệu Honda loại KF250 màu đỏ đen mang biển số: 50Y1-321.14, dung tích xi lanh: 153cm³, sản xuất năm 2017, số máy: KF25E0043839, số khung: 2509GY044098, đăng ký lần đầu ngày 02/10/2018, trị giá: 53.000.000 đồng.
  • 01 (Một) chiếc nhẫn bằng vàng 18K, trọng lượng 02 chỉ, trị giá: 8.535.800 đồng.

Tổng giá trị bị chiếm đoạt là: 70.535.800 đồng.

Vụ thứ 5: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 26/5/2023, T điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vario, màu cam, biển số 59M-636.93 chở P1 di chuyển trên các tuyến đường thuộc địa phận xã T, huyện C tìm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 27/5/2023, T chở P1 đang lưu thông trên Tỉnh lộ 8 thì quan sát thấy nhà của ông Nguyễn Văn R tại địa chỉ: Số C, Tỉnh lộ 8, Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì dừng lại. Lúc này, P1 đứng ngoài chờ, T một mình sử dụng 01 cây tua vít cậy cửa, đột nhập vào nhà của ông R. T lén lút chiếm đoạt được số tài sản gồm: 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade mang biển số 50Y2 – 559.60, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A23 và số tiền 3.000.000 đồng. Sau đó, T cùng P1 tẩu thoát về nhà của P1. P1 bán chiếc xe gắn máy hiệu Honda Airbade, biển số 59Y2-559.60 cho đối tượng tên K (Không rõ nhân thân lai lịch) được số tiền 5.000.000 đồng, P1 không chia tiền bán xe cho T mà giữ lại để tiêu xài cá nhân hết.

Riêng chiếc điện thoại di dộng hiệu S1 A23, T đem qua tỉnh Bình Dương nhờ T2 bán giúp. Trần Anh T2 bán được số tiền 2.000.000 đồng và đưa tiền cho T, T2 không lấy tiền công. T sử dụng số tiền 3.000.000 đồng trộm cắp được và số tiền bán điện thoại di động tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 155/KL-HĐĐGTS ngày 16 tháng 6 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận:

  • 01 (Một) xe gắn máy hiệu Honda Airblade màu đen xám mang biển số: 50Y2-559.60, dung tích xi lanh: 125cm³, số máy: JF46E5029896, số khung: RLHJF4611EY329888, trị giá: 9.000.000 đồng.
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu S1 A23, trị giá: 3.500.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 15.500.000 đồng.

Vụ thứ 6: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 29/05/2023, T điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vario, màu cam, mang biển số 59M-636.93 chở P1 lưu thông trên các tuyến đường thuộc địa phận xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm tài sản trộm cắp tài sản. T phát hiện nhà của chị Nguyễn Thị Mỹ U tại địa chỉ: Số B, Đường B, Ấp E, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì dừng lại. Lúc này, P1 đứng ngoài, T dùng 01 cây tua vít cậy cửa phòng khách, đột nhập vào trong chiếm đoạt được số tài sản gồm: 01 chiếc xe gắn máy hiệu Honda Vario màu bạc, biển số 59Y3-716.13 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax. Sau đó, T và P1 cùng nhau đi về nhà của P1. Tại đây, P1 thay 01 biển số khác (không rõ số) cho chiếc xe gắn máy hiệu Honda Vario, biển số 59Y3-716.13 để đem đi tiêu thụ.

Ngày 30/5/2023, T đem chiếc xe gắn máy hiệu Honda Vario, màu bạc đã thay biển số khác và 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax đến quán C3 tại địa chỉ: Số B, đường V, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương nhờ T2 đi tiêu thụ dùm. T2 đem đi bán cho người đàn ông lạ mặt tại khu vực ngã tư A được số tiền 11.000.000 đồng và đưa cho T. T2 không lấy tiền công. T chia cho P1 số tiền 5.000.000 đồng, số tiền còn lại T đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 140/KL-HĐĐGTS ngày 12 tháng 6 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận:

  • 01 (Một) chiếc xe gắn máy hiệu Honda Vario 150 màu đen bạc mang biển số: 59Y3-716.13, dung tích xi lanh: 149.32cm³, số máy: KF41E2189362, số khung: MH1KF4127MK185148, trị giá: 30.000.000 đồng.
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, trị giá 8.000.000 đồng.

Tổng giá trị bị chiếm đoạt là: 38.000.000 đồng.

Vụ thứ 7: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 05/6/2023, T điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vario màu cam, biển số 59M2-636.93 chở P1 đi trộm cắp tài sản. T mang theo 02 cây tua vít dẹp rồi đưa cho P1 giữ. Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 06/6/2023, khi đang lưu thông trên Tỉnh lộ 15 đến địa phận xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì T quan sát thấy trong nhà của ông Lương Văn C1 tại địa chỉ: Số A, Tỉnh Lộ 15, ấp P, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh có dựng xe gắn máy nên dừng lại. Lúc này, T dừng xe tại giao lộ đường C và đường số H thuộc xã A, huyện C và kêu P1 đứng ngoài để cảnh giới, khi nào bị phát hiện thì la lên hoặc nhá đèn xe cho T biết để tẩu thoát. P1 đưa lại 02 cây tua vít cho T đem theo và leo qua tường rào vào nhà. T vào trong nhà lấy trộm được số tài sản gồm: 01 xe gắn máy hiệu Honda SH150i, biển số 59Y3 – 823.51 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, 128GB cùng chìa khóa xe (loại chìa khóa thông minh) rồi đẩy ra ngoài qua cổng nhà, do T lấy được chìa khóa để mở cửa cổng.

Tuy nhiên, khi đẩy xe ra đến vị trí P1 đứng cảnh giới thì phát hiện chìa khóa không mở được xe gắn máy này. Đồng thời khi T bấm chìa khóa thông minh thì nghe thấy chiếc xe gắn máy khác trong nhà phát ra tín hiệu. Do đó, T để lại chiếc xe gắn máy hiệu Honda SH150i, biển số 59Y3 – 823.51 lại và đưa 02 cây tua vít lại cho P1 cầm giữ, T quay vào nhà lấy trộm thêm 01 xe gắn máy hiệu Honda SH Mode, biển số 59Y3 – 543.98 đẩy ra ngoài. T điều khiển chiếc xe Honda SH Mode, biển số 59Y3 – 543.98, P1 điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vario màu cam, biển số 59M2-636.93 tẩu thoát. Khi về đến bãi đất trống thuộc Ấp D, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, T kiểm tra trong cốp xe trộm được thấy có số tiền khoảng 6.000.000 đồng và nhiều giấy tờ tùy thân, thẻ Ngân hàng. T chia cho P1 số tiền 2.000.000 đồng và vứt bỏ những giấy tờ trong cốp xe xuống khu vực mương nước tại đây. Khi về nhà của P1, P1 sử dụng 01 chìa khóa số 10 mở biển số xe 59Y3-543.98 ra đem cất giấu trong nhà của mình để tránh bị phát hiện.

Đến sáng ngày 06/6/2023, T và P1 đem xe gắn máy và điện thoại trên đến quán cà phê 68 tại địa chỉ: Số B, đường V, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương nhờ Trần Anh T2 bán với giá 13.000.000 đồng. T2 lấy tiền của mình đưa cho T số tiền 13.000.000 đồng. T cho T2 1.000.000 đồng nhưng T2 không lấy. Sau khi T giao chiếc xe Honda SH Mode đã tháo biển số và chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, 128GB cho T2 đem đi tiêu thụ thì T và P1 bị Công an phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương phát hiện mời về trụ sở lập hồ sơ xử lý. Riêng T2 đã bỏ trốn đến khu vực ngã tư A, bán chiếc xe và điện thoại trên được 12.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 135/KL-HĐĐGTS ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:

  • 01 (Một) xe gắn máy hiệu Honda SH Mode màu đỏ đen mang biển số: 59Y3-543.98, số máy: JF87E5197600, số khung: 5166KZ195166, sản xuất năm 2020, mua ngày 08/5/2020, trị giá: 43.000.000 đồng.
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax 128GB, màu đen, mua vào tháng 8/2020, trị giá: 20.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 256/KL-HĐĐGTS ngày 24 tháng 10 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận:

  • 01 (Một) xe gắn máy hiệu Honda SH150i màu xám đen mang biển số: 59Y3-823.51, số máy: KF42E3012899, số khung: RLHKF4215NY306866, đã qua sử dụng, trị giá: 55.000.000 đồng.

Tổng giá trị bị chiếm đoạt là: 118.000.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 6392/KL-KTHS ngày 28/9/2023 của Phòng K1 (PC09) Công an Thành phố H đối với 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda Vario, biển kiểm soát: 59M2-636.93, số m áy: JM51E-2081285, số khung: MH1JM512XNK082301, như sau: Số khung: Không bị đục lại số. Số máy: Không bị đục lại số.

Tại Kết luận giám định số 6393/KL-KTHS ngày 28/9/2023 của Phòng K1 (PC09) Công an Thành phố H đối với 01 xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha Mio, biển kiểm soát: 70B1-655.41, số máy: 23B3-010066, số khung: RLCM23B30-8Y010066, như sau: Số khung: Không bị đục lại số. Số máy: Không bị đục lại số.

Quá trình điều tra, Trần Thanh T, Nguyễn Hữu P và Trần Anh T2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trần Thanh T bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm nguy hiểm. Nguyễn Hữu P, Trần Anh T2 bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên.

Về dân sự:

  • Bà Huỳnh Thị M2 yêu cầu được khắc phục số tiền 12.000.000 đồng (Trần Thanh T chưa khắc phục).
  • Ông Nguyễn Tường V yêu cầu được khắc phục số tiền 10.000.000 đồng (Trần Thanh T chưa khắc phục).
  • Bà Huỳnh Thị Kim P1 yêu cầu được khắc phục số tiền 40.000.000 đồng. (Trần Thanh T chưa khắc phục).
  • Ông Hoàng Công H2 yêu cầu được khắc phục số tiền 66.267.000 đồng. (Trần Thanh T và Nguyễn Hữu P chưa khắc phục).
  • Ông Nguyễn Văn R yêu cầu được khắc phục số tiền 20.000.000 đồng. (Trần Thanh T và Nguyễn Hữu P chưa khắc phục).
  • Bà Nguyễn Thị Mỹ U yêu cầu được khắc phục số tiền 84.000.000 đồng. (Trần Thanh T và Nguyễn Hữu P chưa khắc phục).
  • Ông Lương Văn C1 yêu cầu được khắc phục số tiền 80.000.000 đồng. (Trần Thanh T và Nguyễn Hữu P chưa khắc phục).

Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử: Trần Thanh T và Nguyễn Hữu P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Trần Anh T2 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm c khoản 2 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh luận tội như sau: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp nội dung Cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ.

Trần Thanh T cùng với Nguyễn Hữu P hoặc Phan Văn B đã thực hiện tổng cộng 07 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể:

Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 25/4/2023, tại nhà không số, Đường B, Tổ D, Ấp D, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, T cùng B đã lén lút lấy trộm của bà Huỳnh Thị M2, gồm: 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc mang biển số 59K2-776.70; 01 điện thoại di động hiệu Vivo (không rõ loại máy) và 01 điện thoại di động hiệu Oppo (không rõ loại máy). Tổng giá trị bị chiếm đoạt là 12.000.000 đồng.

Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 02/5/2023, tại số F, Đường D, Tổ C, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, T lén lút lấy trộm của ông Nguyễn Tường V 01 chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Mio, biển số 70B1 – 655.41. Tổng giá trị bị chiếm đoạt là 12.000.000 đồng.

Ngày 11/5/2023, tại số E, Đường L, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thanh T cùng Phan Văn B lén lút lấy trộm của bà Huỳnh Thị Kim P1, gồm: 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số 50V2 – 412.49 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung M53, 01 điện thoại di động hiệu Samsung A51. Tổng giá trị bị chiếm đoạt là: 23.000.000 đồng.

Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 18/05/2023, tại số E, đường N, ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thanh T cùng Nguyễn Hữu P lén lút lấy trộm của ông Hoàng Công H2, gồm: 01 xe gắn máy hiệu Honda loại KF250 mang biển số: 50Y1-321.14; số tiền mặt 9.000.000 đồng và 01 chiếc nhẫn vàng 18K trọng lượng 02 chỉ. Tổng giá trị bị chiếm đoạt là 70.535.800 đồng.

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 26/5/2023, tại số C, Tỉnh lộ 8, Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thanh T cùng Nguyễn Hữu P lén lút lấy trộm của ông Nguyễn Văn R, gồm: 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade, biển số 50Y2 – 559.60; 01 điện thoại di động hiệu S1 và tiền mặt 3.000.000 đồng. Tổng giá trị bị chiếm đoạt là 15.500.000 đồng.

Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 29/05/2023, tại số B, Đường B, Ấp E, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thanh T rủ Nguyễn Hữu P lén lút lấy trộm của bà Nguyễn Thị Mỹ U, gồm: 01 chiếc xe gắn máy hiệu Honda Vario, biển số 59Y3-716.13 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax. Tổng giá trị bị chiếm đoạt là: 38.000.000 đồng.

Vào khoảng 20 giờ 00 ngày 05/6/2023, tại số A, Tỉnh Lộ 15, ấp P, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thanh T cùng Nguyễn Hữu P lén lút lấy trộm của ông Lương Văn C1, gồm: 01 xe gắn máy hiệu Honda SH150i, biển số 59Y3 – 823.51, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax dung lượng bộ nhớ trong 128GB và 01 xe gắn máy hiệu Honda SH Mode, biển số 59Y3 – 543.98. Tổng giá trị bị chiếm đoạt là: 118.000.000 đồng.

Qua bảy lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Trần Thanh T chiếm đoạt được số tài sản có tổng trị giá là 283.035.800 đồng (hai trăm tám mươi ba triệu không trăm ba mươi lăm nghìn tám trăm đồng).

Qua bốn lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Nguyễn Hữu P đã chiếm đoạt được tổng trị giá là 242.035.800 đồng (hai trăm bốn mươi hai triệu không trăm ba mươi lăm nghìn nghìn tám trăm đồng).

Mặc dù không bàn bạc trước, Trần Anh T2 biết rõ tài sản do phạm tội mà có nhưng đã 06 lần giúp Trần Thanh T tiêu thụ tài sản vào các ngày 26/4/2023, 12/5/2023, 19/5/2023, 26/5/2023, 30/05/2023 và 06/6/2023. Trần Anh T2 đã tiêu thụ số tài sản có tổng trị giá là 201.035.800 đồng (hai trăm lẻ một triệu không trăm ba mươi lăm nghìn tám trăm đồng).

Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hai bị cáo Trần Thanh T và Nguyễn Hữu P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; bị cáo Trần Anh T2 đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm c khoản 2 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Đối với bị cáo Trần Thanh T về nhân thân không có tiền sự, có 01 tiền án: Ngày 16/3/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 25/10/2021 chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo có tình tiết tăng nặng theo điểm b, g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Đối với bị cáo Nguyễn Hữu P về nhân thân không có tiền án, có 01 tiền sự: Ngày 26/02/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, đến ngày 22/6/2022 chấp hành xong. Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Đối với bị cáo Trần Anh T2 về nhân thân không có tiền án, tiền sự. Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ba bị cáo Trần Thanh T, Nguyễn Hữu P và Trần Anh T2 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố hai bị cáo Trần Thanh T và Nguyễn Hữu P phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

+ Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173, điểm b, g, h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thanh T từ 10 đến 11 năm tù.

+ Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu P từ 08 đến 09 năm tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Anh T2 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 323, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Anh T2 từ 05 – 06 năm tù. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 18/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án.

Xét các bị cáo không có công việc ổn định nên không cần thiết phạt bổ sung.

* Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone X, số Imei: 354864095381571, đã qua sử dụng, là điện thoại của bị cáo T sử dụng để liên lạc rủ đồng phạm đi trộm cắp tài sản và liên lạc để tiêu thụ tài sản sau khi trộm cắp mà có.

- Số tiền 13.155.000 đồng, gồm: 12.000.000 đồng, là tiền do Trần Thanh T bán tài sản trộm cắp mà có và 1.155.000 đồng, là tiền của Nguyễn Hữu P được Trần Thanh T chia từ số tiền trộm cắp mà có. Đề nghị Hội đồng xét xử tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (Một) nón bảo hiểm màu đỏ là trang phục của Trần Thanh T sử dụng trong lúc đi trộm cắp tài sản.
  • 01 (Một) áo sơ mi dài tay màu xanh trắng là trang phục của Trần Thanh T sử dụng trong lúc đi trộm cắp tài sản.
  • 01 (Một) quần Jean màu đen xám là trang phục của Trần Thanh T sử dụng trong lúc đi trộm cắp tài sản.
  • 01 (Một) đôi dép màu nâu đen là trang phục của Trần Thanh T sử dụng trong lúc đi trộm cắp tài sản.

- Trao trả vật chứng, gồm:

+ Đối với vật chứng là 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda SH150i màu xám đen mang biển số 59Y3-823.51, số máy: KF42E3012899, số khung: RLHKF4215NY306866, đã qua sử dụng, thuộc sở hữu của ông Lương Văn C1. Công an xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đã trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Lương Văn C1 là phù hợp.

+ Đối với số vật chứng còn lại do gia đình của ông Lương Văn C1 bị mất. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho gia đình và đại diện là ông Lương Văn C1 để quản lý sử dụng, gồm: 01 (Một) thẻ DAI-ICHI LIFE CARE mang tên Lương Văn C1, mã số: 0003064346; 01 (Một) thẻ Ngân hàng S2 số 9704 0302 7038 4545 mang tên Lương Văn C1; 01 (Một) thẻ Ngân hàng S2 số 4221 5102 9989 5030 mang tên Nguyễn Thị Hồng H3; 02 (Hai) phiếu thu tạm ứng Bệnh viện huyện C số 6988 và số 6990 tên Lương Văn C1; 01 (Một) thẻ học sinh Trường T5 tên Lương Nguyễn Bảo T4; 01 (Một) thẻ bảo hiểm y tế tên Lương Nguyễn Bảo T4, mã số: HS.479.7934892441; 01 (Một) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Hồng H3, số [...]; 01 (Một) thẻ DAI-ICHI LIFE CARE mang tên Nguyễn Thị Hồng H3, mã số: 0003064362; 01 (Một) bóp màu nâu có chữ "VL".

+ Đối với số vật chứng là tài sản của bà Nguyễn Thị Mỹ U bị mất. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ U để quản lý sử dụng, gồm: 01 (Một) thẻ sinh viên mang tên Nguyễn Thị Mỹ U, số 9704 1801 1538 7847; 01 (Một) giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị Mỹ U, số [...]; 01 (Một) thẻ CGV, mã vạch số: 9021855000789696; 01 (Một) thẻ Membership AEON, mã vạch số: 10012538900000.

- Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi xác minh chủ sở hữu, nếu không tìm thấy sung quỹ Nhà nước theo Quy định:

+ 01 (Một) chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Mio màu đen hồng mang biển số: 70B1-655.41, số máy: 23B3010066, số khung: 3B308Y010066, đã qua sử dụng. Chiếc xe gắn máy này là tang vật do Trần Thanh T trộm được vào ngày 03/5/2023 tại ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, Trần Thanh T sử dụng chiếc xe gắn máy này làm phương tiện đi đến nhà của bà Huỳnh Thị Kim P1 trộm cắp tài sản ngày 11/5/2023 tại ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh rồi bỏ lại tại hiện trường, qua xác minh không có cơ sở dữ liệu.

+ 01 (Một) xe gắn máy hiệu Honda Vario màu cam mang biển số: 59M2-636.93, số khung: MH1JM512XNK082301, số máy: JM51E2081285, đã qua sử dụng. Chiếc xe gắn máy này là phương tiện do Trần Thanh T sử dụng để làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, qua xác minh không có cơ sở dữ liệu.

* Về dân sự:

Tại phiên tòa, ngày 28/02/2024 và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thanh T đồng ý bồi thường cho:

  • Bà Huỳnh Thị M2 số tiền 12.000.000 đồng.
  • Ông Nguyễn Tường V số tiền 10.000.000 đồng.
  • Bà Huỳnh Thị Kim P1 số tiền 40.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, ngày 28/02/2024 và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thanh T và bị cáo Nguyễn Hữu P đồng ý bồi thường cho:

  • Ông Hoàng Công H2 số tiền 70.536.000 đồng, T và P mỗi người bồi thường số tiền 35.268.000 đồng.
  • Ông Nguyễn Văn R số tiền 20.000.000 đồng, T và P mỗi người bồi thường số tiền 10.000.000 đồng.
  • Bà Nguyễn Thị Mỹ U số tiền 84.000.000 đồng, T và P mỗi người bồi thường số tiền 42.000.000 đồng.
  • Ông Lương Văn C1 số tiền 80.000.000 đồng, T và P mỗi người bồi thường số tiền 40.000.000 đồng.

Đề nghị Hội đồng xét xử buộc hai bị cáo T và P bồi thường cho các bị hại số tiền tương ứng như trên.

Ba bị cáo Trần Thanh T, Nguyễn Hữu P và Trần Anh T2 không tranh luận, không tự bào chữa.

Lời nói sau cùng của ba bị cáo: Xin Hội đồng xét xử khoan hồng xử ba bị cáo mức án thấp nhất để ba bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, ba bị cáo T, P và T2 thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của ba bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp các chứng cứ có tại hồ sơ.

  • Bị cáo T bảy lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chiếm đoạt được số tài sản có tổng trị giá là 283.035.800 (hai trăm tám mươi ba triệu không trăm ba mươi lăm nghìn tám trăm) đồng.
  • Bị cáo P bốn lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chiếm đoạt được tổng trị giá là 242.035.800 (hai trăm bốn mươi hai triệu không trăm ba mươi lăm nghìn nghìn tám trăm) đồng.
  • Mặc dù không bàn bạc trước, bị cáo Trần Anh T2 biết rõ tài sản do phạm tội mà có nhưng đã 06 lần giúp bị cáo T tiêu thụ tài sản vào các ngày 26/4/2023, 12/5/2023, 19/5/2023, 26/5/2023, 30/05/2023 và 06/6/2023. Trần Anh T2 đã tiêu thụ số tài sản có tổng trị giá là 201.035.800 (hai trăm lẻ một triệu không trăm ba mươi lăm nghìn tám trăm) đồng.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hai bị cáo Trần Thanh T và Nguyễn Hữu P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Trần Anh T2 đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[2] Hành vi của hai bị cáo T và P là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hai bị cáo nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài hai bị cáo vẫn bất chấp. Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để cải tạo và giáo dục hai bị cáo trở thành người tốt cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của từng bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

[2.1] Đối với bị cáo Trần Thanh T về nhân thân không có tiền sự, có 01 tiền án: Ngày 16/3/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 25/10/2021 chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo có tình tiết tăng nặng theo điểm b, g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[2.2] Đối với bị cáo Nguyễn Hữu P về nhân thân không có tiền án, có 01 tiền sự: Ngày 26/02/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, đến ngày 22/6/2022 chấp hành xong. Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[2.3] Trong vụ án này, bị cáo T là người chủ mưu, rủ rê bị cáo P đi trộm cắp tài sản. Hai bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể, hành vi của hai bị cáo là đồng phạm giản đơn, Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội có tổ chức theo điểm a khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự nhưng áp dụng hình phạt đối với bị cáo T nghiêm khắc hơn bị cáo P.

[3] Hành vi của bị cáo Trần Anh T2 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được việc tiêu thụ tài sản do bị cáo T trộm cắp mà có là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn giúp cho bị cáo T bị cáo vẫn thực hiện. Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

Bị cáo Trần Anh T2 không có tiền án, tiền sự. Về nhân thân: Ngày 18/7/2024, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 (hai) năm về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2023, bị cáo đang chấp hành án. Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, ba bị cáo T, P và T2 thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 khoan hồng, giảm nhẹ một phần hình phạt đối với ba bị cáo.

[4] Về dân sự:

Tại phiên tòa, ngày 28/02/2024 và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thanh T đồng ý bồi thường cho: Bà Huỳnh Thị M2 số tiền 12.000.000 đồng, ông Nguyễn Tường V số tiền 10.000.000 đồng và bà Huỳnh Thị Kim P1 số tiền 40.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, ngày 28/02/2024 và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thanh T và bị cáo Nguyễn Hữu P đồng ý bồi thường cho: Ông Hoàng Công H2 số tiền 70.536.000 đồng, T và P mỗi người bồi thường số tiền 35.268.000 đồng; ông Nguyễn Văn R số tiền 20.000.000 đồng, T và P mỗi người bồi thường số tiền 10.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị Mỹ U số tiền 84.000.000 đồng, T và P mỗi người bồi thường số tiền 42.000.000 đồng; ông Lương Văn C1 số tiền 80.000.000 đồng, T và P mỗi người bồi thường số tiền 40.000.000 đồng.

Hội đồng xét xử buộc hai bị cáo T và P bồi thường cho các bị hại số tiền tương ứng như trên là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone X, số Imei: 354864095381571, đã qua sử dụng, là điện thoại của bị cáo T sử dụng để liên lạc rủ đồng phạm đi trộm cắp tài sản và liên lạc để tiêu thụ tài sản sau khi trộm cắp mà có, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
  • Số tiền 13.155.000 đồng, gồm: 12.000.000 đồng là tiền do bị cáo T bán tài sản trộm cắp mà có và 1.155.000 đồng là tiền bị cáo P được bị cáo T chia từ số tiền trộm cắp mà có, Hội đồng xét xử quyết định tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
  • Các vật chứng gồm: 01 (Một) nón bảo hiểm màu đỏ, 01 (Một) áo sơ mi dài tay màu xanh trắng, 01 (Một) quần Jean màu đen xám, 01 (Một) đôi dép màu nâu đen là trang phục của bị cáo T sử dụng trong lúc đi trộm cắp tài sản, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda SH150i màu xám đen mang biển số 59Y3-823.51, số máy: KF42E3012899, số khung: RLHKF4215NY306866, đã qua sử dụng, thuộc sở hữu của ông Lương Văn C1. Công an xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đã trao trả cho ông Lương Văn C1 là phù hợp.
  • Đối với số vật chứng còn lại do gia đình của ông Lương Văn C1 bị mất gồm: 01 (Một) thẻ DAI-ICHI LIFE CARE mang tên Lương Văn C1, mã số: 0003064346; 01 (Một) thẻ Ngân hàng S2 số 9704 0302 7038 4545 mang tên Lương Văn C1; 01 (Một) thẻ Ngân hàng S2 số 4221 5102 9989 5030 mang tên Nguyễn Thị Hồng H3; 02 (Hai) phiếu thu tạm ứng Bệnh viện huyện C số 6988 và số 6990 tên Lương Văn C1; 01 (Một) thẻ học sinh Trường T5 tên Lương Nguyễn Bảo T4; 01 (Một) thẻ bảo hiểm y tế tên Lương Nguyễn Bảo T4, mã số: HS.479.7934892441; 01 (Một) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Hồng H3, số [...]; 01 (Một) thẻ DAI-ICHI LIFE CARE mang tên Nguyễn Thị Hồng H3, mã số: 0003064362; 01 (Một) bóp màu nâu có chữ "VL", Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho gia đình và đại diện là ông Lương Văn C1 là phù hợp.
  • Đối với số vật chứng gồm: 01 (Một) thẻ sinh viên mang tên Nguyễn Thị Mỹ U, số 9704 1801 1538 7847; 01 (Một) giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị Mỹ U, số [...]; 01 (Một) thẻ CGV, mã vạch số: 9021855000789696; 01 (Một) thẻ Membership AEON, mã vạch số: 10012538900000 là tài sản của bà Nguyễn Thị Mỹ U bị mất. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ U là phù hợp.
  • 01 (Một) xe mô tô hiệu Mio màu hồng - đen mang biển số 70B1-655.41, số khung: RLCM23B308Y010066, số máy: 23B3010066, đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong: Xe do bị cáo T trộm được vào ngày 03/5/2023 tại ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, bị cáo T sử dụng làm phương tiện đến nhà bà Huỳnh Thị Kim P1 trộm cắp tài sản ngày 11/5/2023 rồi bỏ lại tại hiện trường. Qua xác minh xe do ông Nguyễn Công P2, địa chỉ số A, khu phố A, Phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh đăng ký sở hữu. Qua làm việc của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, ông P2 xác định xe do ông mua và đăng ký chủ sở hữu, ông sử dụng đến năm 2020 đã bán xe cho một người phụ nữ (không rõ họ tên và địa chỉ) mua phế liệu dạo (không rõ họ tên và địa chỉ) giá 2.000.000 đồng.
  • 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Vario màu cam mang biển số 59M2-636.93, số khung: MH1JM512XNK082301, số máy: JM51E2081285, đã qua sử dụng: Xe này là phương tiện bị cáo T sử dụng để làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, qua xác minh không có cơ sở dữ liệu.

Hội đồng xét xử giao lại 02 xe nêu trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thông báo tìm chủ sở hữu và xử lý theo quy định.

[6] Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “...Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án...”, Hội đồng xét xử buộc ba bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Đề nghị của Kiểm sát viên như nêu trên là phù hợp.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố hai bị cáo Trần Thanh T và Nguyễn Hữu P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Tuyên bố bị cáo Trần Anh T2 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173, điểm b, g, h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/6/2023.

- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu P 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/6/2023.

- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 323, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Anh T2 05 (năm) tù.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tổng hợp hình phạt với Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 18/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Trần Anh T2 phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 07 (bảy) năm, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/10/2023.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015:

+ Buộc bị cáo Trần Thanh T có trách nhiệm bồi thường cho: Bà Huỳnh Thị M2 số tiền 12.000.000 (mười hai triệu) đồng; ông Nguyễn Tường V số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng, bà Huỳnh Thị Kim P1 số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng; ông Hoàng Công H2 số tiền 35.268.000 (ba mươi lăm triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn) đồng; ông Nguyễn Văn R số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng; bà Nguyễn Thị Mỹ U số tiền 42.000.000 (bốn mươi hai triệu) đồng; ông Lương Văn C1 số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.

+ Buộc bị cáo Nguyễn Hữu P có trách nhiệm bồi thường cho: Ông Hoàng Công H2 số tiền 35.268.000 (ba mươi lăm triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn) đồng; ông Nguyễn Văn R số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng; bà Nguyễn Thị Mỹ U số tiền 42.000.000 (bốn mươi hai triệu) đồng; ông Lương Văn C1 số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày bà Huỳnh Thị M2, ông Nguyễn Tường V, bà Huỳnh Thị Kim P1, ông Hoàng Công H2, ông Nguyễn Văn R, bà Nguyễn Thị Mỹ U và ông Lương Văn C1 có đơn yêu cầu thi hành án nếu hai bị cáo T và P1 chưa thi hành trả số tiền nêu trên thì hàng tháng hai bị cáo còn phải trả cho bà M2, ông V, bà P1, ông H2, ông R, bà U và ông C1 tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

+ Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone X, số Imei: 354864095381571, đã qua sử dụng.

+ Tạm giữ số tiền 13.155.000 (mười ba triệu một trăm năm mươi lăm nghìn) đồng, trong đó: 12.000.000 (mười hai triệu) đồng của bị cáo T và 1.155.000 (một triệu một trăm năm mươi lăm nghìn) đồng của bị cáo P1 để đảm bảo cho việc thi hành án.

+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) nón bảo hiểm màu đỏ, 01 (Một) áo sơ mi dài tay màu xanh trắng, 01 (Một) quần Jean màu đen xám, 01 (Một) đôi dép màu nâu đen.

+ Giao 02 xe gồm: 01 (Một) xe mô tô hiệu Mio màu hồng - đen mang biển số 70B1-655.41, số khung: RLCM23B308Y010066, số máy: 23B3010066, đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong và 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Vario màu cam mang biển số 59M2-636.93, số khung: MH1JM512XNK082301, số máy: JM51E2081285, đã qua sử dụng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thông báo tìm chủ sở hữu và xử lý theo quy định.

Vật chứng nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số 263/PNK ngày 20/11/2023 (BL 515) và Lệnh nhập kho vật chứng số 31/LNK-CSĐT-CSHS ngày 11/7/2023 (BL515b).

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

+ Buộc bị cáo Trần Thanh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 9.463.400 (chín triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm) đồng.

+ Buộc bị cáo Nguyễn Hữu P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 6.363.400 (sáu triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm) đồng.

+ Buộc bị cáo Trần Anh T2 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Ba bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo (03);
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh (01);
  • - VKSND huyện Củ Chi (01);
  • - Công an huyện Củ Chi (02);
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi (01);
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh (01);
  • - Bộ phận THA hình sự (07);
  • - Bị hại (07);
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (03);
  • - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Thắm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 300/2024/HSST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 300/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger