Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 300/2024/DS-ST

Ngày: 20 - 9 - 2024

V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Yến Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Xuân Minh

Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trúc Linh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý 545/2024/TLST- DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 368/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hồng T, sinh năm 1983.
  • Ông Dương Nhất Đ – sinh năm 1978.
  • Nơi cư trú: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  • Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Hồng T: Ông Dương Nhất Đ – sinh năm 1978 (Xin vắng mặt)
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Hồng T1, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
  • Nơi cư trú: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Dương Nhất Đ trình bày:

Vào ngày 09/3/2022 âm lịch, vợ chồng ông có tham gia dây hụi 3.000.000 đồng, gồm 22 chưng theo Danh sách hụi bà T1 đưa, hụi mỗi tháng khui 01 lần, vợ chồng ông tham gia 01 chưng (số thứ tự 14 tên T). Ông đóng hụi sống được 18 lần, đến kỳ khui 19 ngày 09/8/2023 âm lịch thì ông bỏ thăm trúng và được hốt hụi nhưng sau đó bà T1 tuyên bố dừng hụi và còn nợ lại vợ chồng ông dây hụi này số tiền là 54.000.000 đồng.

Vào ngày 24/5/2022 âm lịch, vợ chồng ông có tham gia dây hụi 3.000.000 đồng, gồm 22 chưng theo Danh sách hụi bà T1 đưa, hụi mỗi tháng khui 01 lần, vợ chồng ông tham gia 01 chưng (số thứ tự 13 tên T). Ông đóng hụi sống được 16 lần thì bà T1 tuyên bố dừng hụi và còn nợ lại vợ chồng ông dây hụi này số tiền là 48.000.000 đồng.

Bà T1 có trả ông được số tiền 23.500.000 đồng, sau đó giữa vợ chồng ông có trực tiếp gặp bà T1 tính toán và chốt nợ lại tiền hụi, thống nhất tổng cộng tiền hụi T1 còn nợ lại vợ chồng ông là 102.000.000 đồng và bà T1 có giao phần tiền hụi chết Nguyễn Như K còn nợ T1 cấn trừ qua cho ông gom là 33.000.000 đồng, K có làm tờ cam kết với ông. Như vậy, tổng cộng bà Nguyễn Hồng T1 còn nợ vợ chồng ông số tiền là 45.500.000 đồng, nhưng đến nay bà T1 không trả thêm bất kỳ khoản nào dù nhiều lần ông liên hệ đòi nên ông khởi kiện yêu cầu giải quyết buộc bà Nguyễn Hồng T1 trả cho vợ chồng ông số tiền còn nợ theo thoả thuận đã chốt là 45.500.000 đồng.

Bị đơn là bà Nguyễn Hồng T1 trình bày:

Bà thừa nhận là vợ chồng ông Đ và bà T có tham gia chơi hụi và đã đóng được số lần đúng như ông Đ trình bày nhưng do nhiều hụi viên giật hụi, dây hụi bị mất cân đối nên bà tuyên bố đình hụi và có trả được cho vợ chồng ông Đ và bà T 23.500.000 đồng. Sau đó, bà có gặp vợ chồng ông Đ bà T tính toán chốt nợ theo đó bà có chuyển giao qua khoản nợ hụi ông Nguyễn Như K còn phải đóng hụi chết là 33.000.000 đồng sang qua cho ông Đ và các bên thống nhất, K có viết cam kết đóng hụi cho ông Đ và bà T, bà chỉ còn nợ lại ông Đ và bà T số tiền 45.500.000 đồng.

Tuy nhiên, hiện nay do nhiều người không đóng hụi chết đầy đủ cho bà, hoàn cảnh khó khăn nên bà yêu cầu được hoàn trả cho ông Đ và bà T 2.000.000 đồng trên mỗi lần hụi đã đóng chứ không đồng ý trả theo tiền hụi chết 3.000.000 đồng, theo đó 02 chưng hụi ông Đ và bà T đã đóng 34 lần x 2.000.000 đồng = 68.000.000 đồng, trừ phần tiền bà đã trả 23.500.000 đồng + tiền K 33.000.000 đồng = 56.500.000 đồng, như vậy bà còn nợ lại ông Đ và bà T 11.500.000 đồng. Bà đồng ý trả cho ông Đ và bà T số tiền 11.500.000 đồng, không đồng ý trả số tiền 45.500.000 đồng như nguyên đơn khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Dương Nhất Đ và bà Nguyễn Hồng T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Nguyễn Hồng T1 thanh toán tiền hụi còn nợ. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Hồng T1 hiện cư trú tại địa chỉ ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng phía bị đơn là bà Nguyễn Hồng T1 vắng mặt không có lý do, nguyên đơn ông Dương Nhất Đ có yêu cầu xin xét xử vắng mặt do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị đơn bà Nguyễn Hồng T1 thừa nhận còn nợ lại vợ chồng ông Dương Nhất Đ và bà Nguyễn Hồng T số tiền là 45.500.000 đồng là đúng. Đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, hiện nay do hoàn cảnh khó khăn, nhiều người không đóng hụi chết nên bị đơn bà T1 chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền là 11.500.000 đồng.

Thấy rằng, tại thời điểm chốt lại các khoản nợ hụi thì hai bên đã thống nhất thoả thuận được khoản tiền bà T1 còn nợ ông Đ, bà T là 45.500.000 đồng, nên bà T1 phải có nghĩa vụ trả số tiền này cho ông Đ, bà T. Bà T1 cho rằng do nhiều người không đóng hụi chết cho bà nên nay bà chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn 11.500.000 đồng (Tức là, bà T1 chỉ đồng ý trả 2.000.000 đồng trên số lần mà ông Đ và bà T đã đóng vào, không đồng ý trả theo hụi chết là 3.000.000 đồng như thoả thuận trước đây) là không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét vì việc những hụi viên không đóng hụi chết cho bà T1 đó là thoả thuận giao dịch giữa bà T1 với những hụi viên đó, trường hợp hụi viên không thực hiện nghĩa vụ đóng hụi cho bà T1 thì bà có quyền khởi kiện vụ án khác, không liên quan đến thoả thuận giữa bà với vợ chồng ông Đ, bà T.

Mặt khác, nguyên đơn ông Đ có cung cấp Giấy xác nhận đề ngày 12/8/2024 (Có xác nhận của chính quyền địa phương) của ông Trương Văn N và ông Phan Chí N1 xác nhận về việc các ông là hụi viên có tham gia hụi của bà T1, đã hốt hụi và có đóng hụi chết đầy đủ cho bà T1 đến khi mãn hụi.

[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Dương Nhất Đ và bà Nguyễn Hồng T, buộc bà Nguyễn Hồng T1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Dương Nhất Đ và bà Nguyễn Hồng T số tiền nợ hụi là 45.500.000 đồng là phù hợp.

[4] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Nhất Đ nên bị đơn bà Nguyễn Hồng T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền hụi phải thanh toán cho nguyên đơn theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cụ thể: 45.500.000 đồng x 5% = 2.275.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các điều 92, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 468, 471 Bộ luật Dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Nhất Đ và bà Nguyễn Hồng T đối với bị đơn bà Nguyễn Hồng T1.
  2. Buộc bà Nguyễn Hồng T1 có nghĩa vụ trả cho ông Dương Nhất Đ và bà Nguyễn Hồng T số tiền là 45.500.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiên và thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  3. Về án phí:
  4. Bà Nguyễn Hồng T1 phải chịu 2.275.000 đồng (Hai triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Nguyên đơn ông Dương Nhất Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, đã dự nộp 1.138.000 đồng (Một triệu một trăm ba mươi tám nghìn đồng) tại biên lai thu số 0005145 ngày 14/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được nhận lại toàn bộ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án; án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Yến Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 300/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 300/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu thanh toán tiền nợ hụi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger