|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 300/2024/HS - ST
Ngày 17 - 6 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Linh Thu Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam.
Ông Nguyễn Văn Năm.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 298/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 295/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành L
sinh năm 1993 tại Bắc Giang; Nơi đăng ký thường trú: 82/1, Tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi sinh sống: 82/1, Tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Ngô Thị Đ1; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 22/3/2024, đến ngày 01/4/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
(Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thành L là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 22/3/2024, L điều khiển xe mô tô biển số 60B1-627.73 đi đến khu vực chợ N thuộc khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, gặp và mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, L cất giấu trong túi quần đang mặc và điều khiển xe mô tô biển số 60B1-627.73 đi về đến trước số nhà A Tổ B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị tổ tuần tra Công an phường T kiểm tra, phát hiện nên tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang.
Tại Bản kết luận giám định số 586/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:
Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,134gam (không phẩy một ba bốn gam), loại: Methamphetamine.
- Vật chứng thu giữ:
- + 01 (một) gói nilon hàn kín bên trong chứa chất màu trắng (Nguyễn Thành L khai là ma túy hàng đá) đã được niêm phong có chữ ký của L và dấu mộc của Công an phường T, thành phố B.
- + 01 điện thoại di động hiệu ViVo, màu xanh số Imei 1: 867695059634419 của L dùng liên lạc với gia đình, không liên quan đến hành vi phạm tội.
- + 01 xe mô tô biển số 60B1-627.73 thu giữ của Nguyễn Thành L. L khai xe mô tô trên Luyến mượn của ông Nguyễn Văn Đ (bố của L) để đi công việc. Qua xác minh, xe mô tô biển số 60B1-627.73 do bà Lê Thị Đ2 (sinh năm 1974, thường trú tại 8, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) đứng tên sở hữu. Bà Đ2 khai vào tháng 4/2018 đã bán chiếc xe này cho ông Đ với giá 8.000.000đ (tám triệu đồng) nhưng không làm thủ tục sang tên. Ông Đ khai ông cho L mượn xe 60B1-627.73 làm phương tiện đi lại, không biết L sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại xe cho ông Đ.
Tại Cáo trạng số 305/CT-VKSBH ngày 22 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 14 (mười bốn) đến 16 (mười sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ còn lại sau giám định.
Trả lại cho Nguyễn Thành L: 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo màu xanh số Imei: 867695059634419 do không liên quan đến việc phạm tội.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng hình sự: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thành L có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn; phù hợp nội dung bản Cáo trạng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, tang vật của vụ án, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 20 giờ 50 phút ngày 22/3/2024, tại khu vực trước nhà số A tổ B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thành L có hành vi tàng trữ trái phép 0,134 gam ma túy loại Methamphetamine thì bị Công an phường T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, đã có đủ chứng cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Thành L cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo theo tội danh và điểm, khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm tới chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, biết tác hại của ma túy, ảnh hưởng sức khỏe con người, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, kinh tế và sự phát triển của chính bản thân và gia đình bị cáo nhưng vẫn mua ma túy về cất giấu để sử dụng. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[6] Về xử lý vật chứng:
01 (một) phong bì được niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 586/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ không được phép sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
Trả lại cho Nguyễn Thành L 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo màu xanh số Imei: 867695059634419 do không liên quan đến việc phạm tội.
[7] Về vấn đề khác: Đối với đối tượng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đã bán ma túy cho L, Cơ quan điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[8] Về án phí: Bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Nguyễn Thành L 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 22/3/2024. - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 586/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
- - Trả lại cho Nguyễn Thành L 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo màu xanh số Imei: 867695059634419.
(Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo Quyết định chuyển vật chứng số 5423/QĐ-VKSBH ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 28/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo Nguyễn Thành L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Linh Thu Hồng |
Bản án số 300/2024/HS - ST ngày 17/06/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 300/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Luyến phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
