Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 300/2023/DS-PT

Ngày 21-8-2023

Về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng

Các thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Vân

Ông Trần Quốc Vũ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Nguyệt Ánh - Thư ký Tòa án nhân

dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên

tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 207/2023/TLPT-DS ngày 10 tháng 7 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án số: 40/2023/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 244/2023/QĐPT-DS ngày 18 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Ngọc P, sinh năm 1970; nơi cư trú: tổ F, ấp N, xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh.
  2. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là anh Diệp Văn C, sinh năm 1987; nơi cư trú: khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; theo văn bản ủy quyền ngày 30-9-2022; có mặt.
  3. Bị đơn: Bà Thân Thị B (Ú), sinh năm 1960; nơi cư trú: khu phố F, Phường C, Thành phố T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
  4. Người kháng cáo: bị đơn bà Thân Thị B.
  5. Viện kiểm sát kháng nghị: không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa người đại diện của nguyên đơn trình bày: trong quá trình bà B chơi hụi với bà P, do kẹt tiền nên bà B có mượn bà P số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng vào ngày 13-9-2020, lãi suất

thỏa thuận bằng miệng là 1,5%/tháng, đóng lãi hàng tháng. Bà P đưa mẫu giấy đăng hụi cho bà B viết số tiền vay của bà P, không ghi lãi suất; bà B cho rằng đó là tiền hụi là không đúng. Bà B đóng lãi đến tháng 3/2021 thì ngưng với số tiền 2.250.000 đồng. Bà P đã nhiều lần yêu cầu bà B trả nợ nhưng bà B không trả.

P khởi kiện yêu cầu bà Thân Thị B trả số tiền gốc 25.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 13-3-2021 đến ngày xét xử 22-5-2023 tính tròn là 26 tháng, theo mức lãi suất là 0,83%/tháng.

Bị đơn bà Thân Thị B trình bày như sau:

Bà có tham gia chơi hụi với bà P và xin hốt hụi nhưng bà P không cho nên mới mượn tiền tổng cộng là 50.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 5% tháng nhưng không có giấy tờ chứng minh. Bà nhận tiền làm 3 lần: ngày 13-9-2020 mượn số tiền 25.000.000 đồng, có viết và ký tên nhận tiền trong “Giấy đăng hụi” do bà P cung cấp; những lần mượn tiền sau đó thì bà không nhớ ngày tháng; bà nhận tiền mượn tại nhà bà P. Bà B đã trả tiền lãi được 6 tháng số tiền 9.000.000 đồng, nhưng không có làm giấy. Bà B cho rằng bà P cấn trừ hết số tiền mượn 50.000.000 đồng này qua tiền hụi (bao gồm cả số tiền 25.000.000 đồng nhận ngày 13-9-2020) nhưng không có giấy tờ chứng minh. Bà B không đồng ý trả số tiền 25.000.000 đồng cho bà P.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2023/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ Điều 463, 466, 468, 469 Bộ luật dân sự 2015 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc P về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn bà Thân Thị B.

Buộc bà Thân Thị B có nghĩa vụ trả cho bà Huỳnh Ngọc P số tiền 30.395.000 đồng (Ba mươi triệu ba trăm chín mươi lăm nghìn đồng). Trong đó bao gồm 25.000.000 đồng tiền gốc và 5.395.000 đồng tiền lãi.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 09 tháng 6 năm 2023 bị đơn bà Thân Thị B có đơn kháng cáo cho rằng bà có ứng tiền hụi của bà P 50.000.000 đồng, sau đó bà P hốt hụi trừ vào khoản tiền của bà đã ứng. Bà không vay tiền của bà P, yêu cầu không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà B có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Người đại diện cho nguyên trình bày, bị đơn kháng cáo nhưng không có chứng cứ, chứng minh; yêu cầu không chấp nhận kháng cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

+ Về tố tụng: Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng những quy định pháp luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: bà B cho rằng bà có ứng tiền hụi của bà P 50.000.000 đồng, bà P hốt hụi của bà trừ vào khoản tiền của bà đã ứng, bà không vay tiền

của bà P; nhưng bà B không đưa ra được chứng cứ, chứng minh. Xét thấy, yêu cầu kháng cáo của bà B là không có căn cứ. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà B, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

  1. [1] Đơn kháng cáo của bị đơn làm quá thời hạn luật định, nhưng có lý do chính đáng, nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. [2] Xét nội dung kháng cáo.
    1. [2.1] Bà P khởi kiện bà B yêu cầu trả số tiền 25.000.000 đồng và tiền lãi suất chậm trả; chứng cứ chứng minh là giấy đăng hụi ngày 13-9-2020 có nội dung “Út Bình có mượn của P 25.000.000 đồng”. Bà B thừa nhận chữ viết và chữ ký trên giấy đăng hụi ngày 13-9-2020 do bà P cung cấp có nội dung “Út Bình có mượn của P 25.000.000 đồng” là của bà B.
    2. [2.2] Bà B thừa nhận có mượn tiền của bà P số tiền 50.000.000 đồng; lần 1 ngày 13-9-2020 vay số tiền 25.000.000 đồng, những lần vay tiền sau đó thì bà không nhớ ngày tháng. Bà trả tiền lãi cho bà P 06 tháng là 9.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ, chứng minh.
    3. [2.3] Căn cứ và tài liệu chứng cứ nêu trên có căn cứ xác định bà B có vay của bà P số tiền 25.000.000 đồng, có thỏa thuận lãi suất. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà B phải có nghĩa vụ trả cho bà P tiền gốc và tiền lãi tổng cộng: 30.395.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.
    4. [2.4] Bà B cho rằng ứng tiền hụi của bà P 50.000.000 đồng, sau đó bà P hốt hụi của bà trừ vào khoản tiền của bà đã ứng, bà không vay tiền của bà P, nhưng không đưa ra được chứng cứ, chứng minh. Bà P không thừa nhận, nên không có căn cứ chấp nhận lời trình bày của bà B.
  3. [3] Từ những phân tích nêu trên xét thấy yêu cầu kháng cáo của bà B là không có căn cứ nên không chấp nhận.
  4. [4] Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà B, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  5. [5] Về án phí dân sự phúc thẩm: do bà B là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  6. [6] Những phần của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 463, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn bà Thân Thị B.
  2. Giữ nguyên Bản án số: 40/2023/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc P tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bị đơn bà Thân Thị B.
    2. Buộc bà Thân Thị B có nghĩa vụ trả cho bà Huỳnh Ngọc P số tiền 30.395.000 đồng (Ba mươi triệu, ba trăm chín mươi lăm nghìn đồng). Trong đó 25.000.000 đồng tiền gốc và 5.395.000 đồng tiền lãi.

    Kể từ ngày bà Huỳnh Ngọc P có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Thân Thị B chưa thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Thân Thị B được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.
  4. Những phần của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND TP Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS TP Tây Ninh;
  • - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu tập án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 300/2023/DS-PT ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 300/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BÀ PHƯỢNG KHỞI KIỆN YÊU CẦU BÀ BÌNH TRẢ TIỀN NỢ VAY VÀ HỤI
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger