|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 300/2024/DS-PT Ngày 07-6-2024 “V/v Tranh chấp đòi quyền sử dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;
Các Thẩm phán: Ông Lê Hồng Nước;
Bà Kiều Kim Xuân;
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Trần Thị Ngọc Quí - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 03, ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2024/TLPT-DS ngày 31 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 100/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 236/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 03 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Nguyễn Văn D, sinh năm 1973;
Địa chỉ: Số C, ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh Thanh T, sinh năm 1960;
Địa chỉ: Số E, khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn:
1/ Nguyễn Văn L, sinh năm 1977;
2/ Nguyễn Văn M, sinh năm 1939;
Địa chỉ: Số nhà C, ấp H, xã T, huyện L, Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của ông M và ông L: Ông Trương Thế T1, sinh năm 1960;
Địa chỉ: Số E, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị T2, sinh năm 1974;
- Nguyễn Thị Thảo N, sinh năm 1997;
- Nguyễn Thị Hồng L1, sinh năm 2003;
- Nguyễn Thị D1, sinh năm 1971;
- Nguyễn Thị L2, sinh năm 1982;
- Nguyễn Thị Ê, sinh năm 1945;
- Phan Thị Mỹ D2, sinh năm 1987;
- Nguyễn Kim T3, sinh năm 1975;
- Nguyễn Thị C, sinh năm 1982;
Cùng địa chỉ: Số nhà C, ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, huyện L, Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số B, ấp L, xã L, huyện L, Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của bà Ê và chị D2: Ông Trương Thế T1, sinh năm 1960;
Địa chỉ: Số E, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ: Số nhà C, ấp H, xã T, huyện L, Đồng Tháp.
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn D là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn D và người đại diện hợp pháp ông Huỳnh Thanh T trình bày:
Ông Nguyễn Văn D được cấp quyền sử dụng đất hợp pháp gồm các tài sản:
- Quyền sử dụng đất số D 0838716 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 22/9/1999 cho ông Nguyễn Văn D diện tích 4.280m² thuộc thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, địa chỉ thửa đất tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp
- Quyền sử dụng đất đối với thửa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 04514, số bìa BU 133521 do UBND huyện L cấp ngày 19/5/2014 cho hộ ông Nguyễn Văn D thuộc thửa 90, tờ bản đồ 28, tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Quyền sử dụng đất đối với thửa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00100, số bìa BB 512100 do UBND huyện L cấp ngày 31/12/2010 cho hộ ông Nguyễn Văn D thuộc thửa 47, tờ bản đồ 28, tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
+ Về nội dung tranh chấp:
1/ Đối với giấy quyền sử dụng đất: ông Nguyễn Văn D yêu cầu ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn L trả lại 03 quyền sử dụng đất (nêu trên) do ông M, ông L chiếm giữ trái pháp luật. Ông D không có thế chấp gì cho ông M, ông L 03 quyền sử dụng đất (nêu trên).
2/ Đối với đất tranh chấp: chỉ tranh chấp thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, địa chỉ thửa đất tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Nguồn gốc thửa đất là của cha là ông Nguyễn Văn M nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn L3 vào năm 1999, sau đó ông M cho lại phần đất này cho ông D đứng tên. Tuy nhiên ông M vẫn quản lý sử dụng cho đến nay.
Nay ông D yêu cầu ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn L trả lại diện tích đất nêu trên.
- Bị đơn Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn L và người đại diện hợp pháp ông Trương Thế T1 trình bày:
Thừa nhận đang giữ 03 quyền sử dụng đất mà ông Nguyễn Văn D đứng tên.
Về nội dung tranh chấp ông M, ông L trình bày:
- 02 quyền sử dụng đất gồm:
- + Quyền sử dụng đất đối với thửa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 04514, số bìa BU 133521 do UBND huyện L cấp ngày 19/5/2014 cho hộ ông Nguyễn Văn D thuộc thửa 90, tờ bản đồ 28, tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- + Quyền sử dụng đất đối với thửa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00100, số bìa BB 512100 do UBND huyện L cấp ngày 31/12/2010 cho hộ ông Nguyễn Văn D thuộc thửa 47, tờ bản đồ 28, tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn L không tranh chấp về đất đối với 02 quyền sử dụng đất này.
Đối với đất tranh chấp: chỉ tranh chấp thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, địa chỉ thửa đất tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Nguồn gốc thửa đất là của ông Nguyễn Văn M nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn L3 vào năm 1999. Sau đó ông M cho ông Nguyễn Văn D lúc này là con trong hộ gia đình đại diện đứng tên. Tuy nhiên từ năm 1999 đến nay thì ông M vẫn canh tác, quản lý đất.
Ngoài ra còn một thửa đất số 168, tờ bản đồ 30, diện tích 4360m² tọa lạc ấp T, xã T cũng có nguồn gốc là của ông Nguyễn Văn M, ông M xác định có cho ông Nguyễn Văn D thửa đất này cũng khoảng năm 1999. Tuy nhiên chỉ giao đất cho D sử dụng từ năm 1999; thửa đất này ông M vẫn đứng tên.
Vào thời điểm khoảng năm 2018 thì ông D có vay nợ Ngân hàng và cả 03 thửa đất do ông D đều thế chấp tại Ngân hàng. Do đã quá hạn nên ông D có đến thỏa thuận với ông M, ông L mượn 450.000.000 đồng để trả nợ ngân hàng và thỏa thuận sau khi rút quyền sử dụng đất thế chấp ra thì sẽ thực hiện chuyển nhượng lại thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, đất tại xã T, huyện L cho ông Nguyễn Văn M.
Sau đó ông M liên hệ với con gái là Nguyễn Thị L2 để lấy số tiền 450.000.000 đồng đưa cho ông D trả nợ ngân hàng rút 03 quyền sử dụng do ông D đứng tên vay tại ngân hàng. Tuy nhiên sau khi rút quyền sử dụng thì ông D không thực hiện việc chuyển nhượng đất cho ông M.
Nay ông M, ông L không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông D.
Chỉ đồng ý trả 03 quyền sử dụng đất (nêu trên) với trường hợp ông D trả số tiền 450.000.000 đồng cho ông M hoặc trường hợp ông D phải chuyển nhượng thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, địa chỉ thửa đất tại xã T, lại cho ông M theo như thỏa thuận trước khi rút quyền sử dụng đất lại từ Ngân hàng.
Ông M có yêu cầu phản tố : Yêu cầu ông D trả số tiền 450.000.000 đồng cho ông M hoặc trường hợp ông D phải chuyển nhượng thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, đất tại xã T lại cho ông M theo như thỏa thuận trước khi rút quyền sử dụng đất lại từ Ngân hàng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông M khẳng định chỉ yêu cầu công nhận thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, đất tại xã T, huyện L lại cho ông M.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị L2 trình bày:
Chị L2 là con ông Nguyễn Văn M, em của ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn L.
Chị L2 cho rằng ông M có liên hệ để chị đưa số tiền 450.000.000 đồng cho ông D mượn để trả số tiền vay tại Ngân hàng. Chị L2 giao tiền cho ông D tại nhà chị. Trong vụ án này chị L2 không ý kiến, yêu cầu gì.
Ông Huỳnh Thanh T đại diện ông D trình bày: Ông D thừa nhận có nhận 450.000.000 đồng từ chị L2. Tuy nhiên đây là số tiền để chuyển nhượng lại thửa đất số 168, tờ bản đồ 30, diện tích 4.360m² tọa lạc ấp T, xã T do ông D canh tác, còn ông M đứng tên quyền sử dụng. Cụ thể ông D sẽ để chị L2 canh tác, sử dụng; ông M thì chuyển nhượng trên giấy tờ cho chị L2. Ông D không đồng ý theo yêu cầu phản tố của ông M theo những chứng cứ nêu trên.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị D1, chị Nguyễn Thị Kim T4, chị Nguyễn Thị C vắng mặt.
Bản án dân sự sơ thẩm số 100/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung quyết định:
Căn cứ Điều 500, 501, 502 Bộ luật dân sự 2015; Điều 100, 101, 166, 167 Luật đất đai năm 2013; Điều 27 của Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn D. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn M và anh Nguyễn Văn L trả 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm:
- Bác yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Văn D về việc buộc ông Nguyễn Văn M và anh Nguyễn Văn L trả diện tích 4.280m² thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, địa chỉ các thửa đất tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp cho nguyên đơn Nguyễn Văn D.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn Văn M:
- Về án phí dân sự sơ thẩm; chi phí thẩm định, định giá:
Quyền sử dụng đất số D 0838716 do ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 22/9/1999 cho ông Nguyễn Văn D diện tích 4.280m² thuộc thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, địa chỉ thửa đất tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp;
Quyền sử dụng đất đối với thửa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 04514, số bìa BU 133521 do UBND huyện L cấp ngày 19/5/2014 cho hộ ông Nguyễn Văn D thuộc thửa 90, tờ bản đồ 28, tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp;
Quyền sử dụng đất đối với thửa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00100, số bìa BB 512100 do UBND huyện L cấp ngày 31/12/2010 cho hộ ông Nguyễn Văn D thuộc thửa 47, tờ bản đồ 28, tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Đối với Quyền sử dụng đất số D 0838716 do ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 22/9/1999 cho ông Nguyễn Văn D diện tích 4.280m² thuộc thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, địa chỉ thửa đất tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (Đo đạc thực tế diện tích là 4.372,8m² được thể hiện từ mốc M1, M2, M3,M4, M5, M6, M7 về M1 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L). Hiện phần đất này ông Nguyễn Văn M đang trực tiếp quản lý canh tác và sử dụng. Đề nghị Ủy ban nhân dân huyện L Thu hồi và cấp lại cho ông Nguyễn Văn M.
Đình chỉ phần yêu cầu của bị đơn ông Nguyễn Văn M và anh Nguyễn Văn L trả tiền thuê đất từ năm 2015 đến năm 2020 là 25.000.000 đồng cho nguyên đơn Nguyễn Văn D.
4.1. Buộc ông Nguyễn Văn D phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm khấu trừ án phí đã nộp. Hoàn trả lại cho ông D số tiền 6.655.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng lệ phí, án phí Tòa án số 0010669, ngày 22/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
4.2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản buộc ông D nộp 6.848.000 đồng (ông D đã nộp xong).
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử vụ án, nguyên đơn ông D kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm là chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.
Buộc ông M và ông L trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH 02105 do UBND huyện L cấp ngày 22/9/1999 (bản gốc), diện tích theo đo đạc thực tế là 4.372,8m² thuộc thửa 1124, tờ bản đồ số 1, đất tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Buộc ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn Văn L trả lại hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm:
- Giấy chứng nhận QSD đất số bìa BU 133521, số vào sổ CH 04514 do UBND huyện L cấp ngày 19/5/2014 (bản gốc) thửa 90, tờ bản đồ số 28, đất tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Giấy chứng nhận QSD đất số bìa BB 512100, số vào sổ CH 00100 do do UBND huyện L cấp ngày 31/12/2010 (bản gốc) thửa 47, tờ bản đồ số 28, đất tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt ông T, ông T1. Các đương sự khẳng định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án. Ông T đại diện cho ông D trình bày thay đổi một phần yêu cầu kháng cáo vì ông M, ông L đã giao trả lại cho ông D 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 47 và thửa số 90, cùng tờ bản đồ số 28 do đó rút yêu cầu kháng cáo về việc yêu cầu trả 02 giấy chứng nhận đối với 02 thửa đất trên. Ông D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo về thửa đất số 1124 và không cung cấp thêm chứng cứ chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình.
Ông T trình bày: Đối với thửa đất 1124 thì Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông M là chưa xác định rõ là căn cứ trên việc tranh chấp đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Trong giấy đất cấp cho hộ gia đình nhưng không xem xét đến vợ và các con của ông D là thiệt thòi với quyền lợi của gia đình ông D. Số tiền 450.000.000 đồng và thửa đất 168 không có liên quan đến việc giải quyết trong vụ án. Nếu bà L2 phát sinh tranh chấp thì ai sẽ chịu trách nhiệm về số tiền này.
Ông T1 trình bày: Đồng ý và đã trả lại 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 47 và thửa đất số 90, cùng tờ bản đồ số 28 cho ông D. Đối với thửa đất số 1124 thì đất là ông M mua của ông L3, ông M chỉ để cho ông D đại diện đứng tên thay, không có tặng cho luôn ông D. Đất từ trước đến nay do ông M quản lý, canh tác. Năm 2018 thì ông D vay tiền nên thiếu nợ Ngân hàng và bên ngoài. Ông M phải vay tiền chị L2 450.000.000 đồng để trả nợ Ngân hàng và lấy 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông D đứng tên ra nên ông D phải có trách nhiệm làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất lại cho ông M đối với thửa đất số 1124, diện tích là 4.280m². Tuy nhiên ông D không thực hiện do đó ông M vẫn giữ 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này. Nay ông D phát sinh tranh chấp nên ông M đồng ý trả lại 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông D cho ông D. Yêu cầu ông D phải làm thủ tục sang tên lại cho ông M thửa đất 1124. Đối với số tiền 450.000.000 đồng nếu có phát sinh tranh chấp thì ông M đồng ý có trách nhiệm trả số tiền này cho chị L2.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng có mặt thực hiện đúng theo quy định về quyền và nghĩa vụ đương sự. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự thống nhất không có khiếu nại gì về thành phần những người tham gia tố tụng.
[2] Về nội dung vụ án tranh chấp các đương sự Tòa án cấp sơ thẩm qua thu thập chứng cứ và diễn biến phiên tòa quyết định:
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D yêu cầu bị đơn trả lại 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Bị đơn ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn L thừa nhận hiện đang giữ và quản lý 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Nguyễn Văn D đứng tên gồm:
- Quyền sử dụng đất số D 0838716 do ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 22/9/1999 cho ông Nguyễn Văn D diện tích 4.280m² thuộc thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, địa chỉ thửa đất tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp;
- Quyền sử dụng đất đối với thửa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 04514, số bìa BU 133521 do UBND huyện L cấp ngày 19/5/2014 cho hộ ông Nguyễn Văn D thuộc thửa 90, tờ bản đồ 28, tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp;
- Quyền sử dụng đất đối với thửa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00100, số bìa BB 512100 do UBND huyện L cấp ngày 31/12/2010 cho hộ ông Nguyễn Văn D thuộc thửa 47, tờ bản đồ 28, tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Lý do ông M, ông L giữ 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Vào thời điểm khoảng năm 2018 thì ông D có nợ Ngân hàng và cả 03 thửa đất do ông D đều thế chấp tại Ngân hàng và đã quá hạn nên ông D có đến thỏa thuận với ông M, ông L mượn 450.000.000 đồng để trả nợ ngân hàng và thỏa thuận sau khi rút quyền sử dụng đất thế chấp ra thì sẽ thực hiện chuyển nhượng lại thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, đất tại xã T. Do sợ thửa đất 1124, tờ bản đồ số 1 là thửa đất của ông M hiện ông đang canh tác nhưng do anh D đứng tên sẽ bị Ngân hàng phát mãi nên ông M đồng ý.
Sau đó ông M liên hệ với con gái là chị Nguyễn Thị L2 để lấy số tiền 450.000.000 đồng cho ông D trả nợ ngân hàng để rút 03 quyền sử dụng do ông D đứng tên vay tại ngân hàng. Tuy nhiên sau khi rút quyền sử dụng thì ông D không thực hiện việc chuyển nhượng đất cho ông M.
Xét thấy, việc giữ và quản lý 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông M, ông L là 03 giấy chứng nhận hiện đứng tên hộ ông Nguyễn Văn D là chưa đúng quy định pháp luật nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc ông M, ông L trả lại 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
[2.2] Đối với phần đất tranh chấp là Quyền sử dụng đất số D 0838716 do ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 22/9/1999 cho ông Nguyễn Văn D diện tích 4.280m² thuộc thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, địa chỉ thửa đất tại xã T. Đo đạc thực tế diện tích là 4.372,8m² được thể hiện từ mốc M1, M2, M3,M4, M5, M6, M7 về M1 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L. Hiện phần đất này ông Nguyễn Văn M đang trực tiếp quản lý canh tác và sử dụng.
- Xét yêu cầu đòi quyền sử dụng đất của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D đối với thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, địa chỉ thửa đất tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp:
Về nguồn gốc thửa đất 1124 các đương sự cùng thừa nhận đất do ông Nguyễn Văn M (cha ông D) nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn L3 vào năm 1999, ông M cho rằng việc cho ông Nguyễn Văn D đứng tên thửa 1124 là do ông D lúc này là con trong hộ gia đình nên đại diện đứng tên; Đối với ông D thì phản bác cho rằng phần đất là do ông M cho cá nhân anh D.
Thực tế thửa đất 1124 từ năm 1999 đến nay thì ông Nguyễn Văn M vẫn canh tác, quản lý. Anh D cho rằng do điều kiện kinh tế khó khăn, thường xuyên làm ăn xa nhà nên không trực tiếp canh tác được thửa đất trên từ năm 1999 mà để lại cho ông M canh tác.
Đối chiếu lại với những chứng cứ Tòa án thu thập là công văn Ủy ban huyện L trả lời cho Tòa án: theo hồ sơ địa chính tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện L cung cấp, thì thửa 1124, tờ bản đồ địa chính số 01, diện tích 4.280m² đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại xã T, được UBND huyện L cấp giấy cho hộ ông Nguyễn Văn D ngày 22/9/1999 là do hộ ông Nguyễn Văn D nhận chuyển nhượng của hộ ông Nguyễn Văn L3.
Từ đó cho thấy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1124, tờ bản đồ địa chính số 01, diện tích 4.280m² là cấp cho hộ ông Nguyễn Văn D vào ngày 22/9/1999 chứ không phải cấp cho cá nhân ông D, thời điểm này ông D còn ở chung hộ khẩu với ông Nguyễn Văn M. Tại công văn số 745/CAH-QLHC ngày 23/9/2022 của Công an huyện L về việc cung cấp thông tin tàng thư hồ sơ cư trú: Căn cứ tàng thư hồ sơ cư trú Công an huyện đang quản lý vào thời điểm ngày 22/9/1999 hộ số 345A/2 ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp không có hồ sơ quản lý (hộ ông Nguyễn Văn D); hộ số 338/2 ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp của ông Nguyễn Văn M (1939) gồm có 7 nhân khẩu, gồm: ông Nguyễn Văn M; bà Nguyễn Thị Ê (vợ ông M); Nguyễn Văn D; Nguyễn Kim T4; Nguyễn Văn L; Nguyễn Thị L2; Nguyễn Thị C (con ông M) do đó việc Ủy ban cấp giấy CNQSDĐ thửa 1124, tờ bản đồ địa chính số 01 là cấp cho hộ ông Nguyễn Văn D mà thời điểm này ông D còn ở chung hộ khẩu với ông M.
Vì thế, có căn cứ chứng minh việc ông M để cho ông D đứng tên quyền sử dụng đất do lúc đó ông D là con và đang ở cùng hộ ông M chứ không phải cho cá nhân ông D, ngoài ra việc sử dụng thửa đất này cũng do ông M canh tác sử dụng từ năm 1999 đến nay.
Việc sử dụng đất của ông M cũng được ông D và các con ông M như L2, D1, T4, C thừa nhận, và những người này cũng xác định phần đất tranh chấp là của cha, mẹ tạo dựng và đang quản lý sử dụng cho đến nay. Việc tranh chấp đất đai giữa ông M với ông D những người con trong hộ ông M cho rằng không có ý kiến gì vì đất này của cha mẹ, cha mẹ tự quyết định.
Từ những chứng cứ trên cho thấy yêu cầu của nguyên đơn ông D yêu cầu ông M, ông L trả lại diện tích đất 4.280m² thửa 1124, tờ bản đồ địa chính số 01 cho ông D là không có cơ sở chấp nhận.
- Xét đối với yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn M:
Ông M khẳng định chỉ yêu cầu công nhận thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, đất tại xã T, lại cho ông M.
Xét việc ông D thiếu nợ ngân hàng 450.000.000 đồng và có thế chấp 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 90, thửa 47 cùng tờ bản đồ 28 và thửa 1124, tờ bản đồ 01 đất ở tại xã T theo như ông M và anh L trình bày đã được chị L2 và chị D1 xác định là có và chính ông M đã đứng ra hỏi chị L2, anh L con ông M mượn số tiền 450.000.000 đồng để cho ông D trả nợ cho ngân hàng để lấy 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên ra.
Việc mượn tiền này chị L2 và chị D1 cũng thừa nhận mượn để cho ông D trả cho ngân hàng, chị L2 là người trực tiếp đưa tiền cho ông D. Ông D cũng thừa nhận có nhận 450.000.000 đồng từ chị L2; còn chị D1 là người trực tiếp cùng ông D đến ngân hàng trả nợ và lấy 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên ra. Sau đó ông D giao cho chị D1 giữ 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này và chính chị D1 cũng là người đưa 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cho ông M khi ông M hỏi chứ không phải ông M và anh L giữ 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D bất hợp pháp như ông D trình bày ở trên.
Ông M, ông L cho rằng có thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, đất tại xã T, lại cho ông M đứng tên là có cơ sở vì chị L2 cũng thừa nhận là sau đó chuyển cho cha chị là ông M đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ông D thừa nhận có nhận 450.000.000 đồng từ chị L2, nhưng ông cho rằng đây là số tiền để chuyển nhượng lại thửa đất số 168, tờ bản đồ 30, diện tích 4.360 m² tọa lạc ấp T, xã T do ông D canh tác, còn ông M đứng tên quyền sử dụng. Cụ thể ông D sẽ để chị L2 canh tác, sử dụng; ông M thì chuyển nhượng trên giấy tờ cho chị L2. Việc ông D trình bày thỏa thuận chuyển nhượng lại thửa đất số 168, tờ bản đồ 30, diện tích 4.360 m² tọa lạc ấp T, xã T cho chị L2 chỉ có chị D1 xác nhận nhưng lại không được ông M, ông L thừa nhận và tờ tường trình của chị L2 cũng không nhắc đến việc chuyển nhượng thửa đất này cho chị L2. Chị L2 cho rằng ông M có liên hệ để chị đưa số tiền 450.000.000 đồng cho ông D mượn để trả số tiền vay tại ngân hàng, chị L2 giao tiền cho anh D tại nhà chị, trong vụ án này chị L2 không ý kiến và không yêu cầu gì.
Xét thấy thửa đất này cấp cho hộ ông Nguyễn Văn D mà ông D lúc đó còn trong hộ của ông Nguyễn Văn M và thửa đất này ông M cũng đã sử dụng và canh tác từ năm 1999 cho đến nay nên buộc ông Nguyễn Văn D chuyển nhượng thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, đất tại xã T lại cho ông M là có căn cứ.
Từ những phân tích trên, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn Văn M. Đối với yêu cầu khởi kiện ông D cho rằng vào năm 2015 thì có cho cha ông là ông M và em là anh L thuê diện tích 4.280m² thửa 1124, tờ bản đồ số 01 với giá 5.000.000 đồng/năm. Tính từ năm 2015 đến năm 2020 là 25.000.000 đồng. Sau đó ông D rút lại không yêu cầu ông M và anh L trả tiền thuê đất từ năm 2015 đến năm 2020 là 25.000.000 đồng do đó đình chỉ đối với phần yêu cầu này của ông D.
[3] Đồng thời căn cứ vào nội dung quyết định các đương sự phải chịu tiền chi phí, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[4] Sau khi xét xử sơ thẩm thì ông D kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm và không cung cấp thêm chứng cứ gì mới.
[5] Tại các phiên tòa phúc thẩm, các đương sự xác định ngoài lời trình bày và các chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì các đương sự không còn chứng cứ nào khác. Ngoài ra, cũng không còn yêu cầu gì khác. Ông D thay đổi rút lại yêu cầu kháng cáo về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 47 và thửa đất số 90. Còn lại kháng cáo đối với thửa đất số 1124 thì Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy ngoài nhận định Tòa án cấp sơ thẩm ra các đương sự thống nhất ngoài việc ông D đứng tên quyền sử dụng đất ra thì không có căn cứ nào chứng minh ông D được ông M chuyển nhượng diện tích đất này từ ông L3 để tặng cho ông D. Đất từ trước đến nay đều do ông M sử dụng, canh tác. Do ông D thiếu nợ Ngân hàng và bên ngoài nên buộc ông M phải vay tiền của chị L2 để trả lấy lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra để ông D làm thủ tục sang tên lại cho ông M nhưng ông D không thực hiện. Lời trình bày này của ông D phù hợp với lời trình bày của chị L2, chị D1. Chị L2 không có tranh chấp gì trong vụ án. Lời trình bày của ông D là không đúng với thực tế xảy ra là khi ông D khởi kiện đối với ông M, ông L về hợp đồng thuê đất nhưng không trả tiền thuê đất đối với thửa 1124; yêu cầu ông M, ông L trả lại 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 90 và 47 cho ông D. Việc ông M, ông L giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D là do ông D xây nhà nên gửi giữ hộ. Khi ông D không làm thủ tục sang tên cho ông M thì các bên phát sinh tranh chấp, ông D lại làm giấy có mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đăng ký cấp lại. Theo Thông báo số 18/TB-UBND ngày 27/5/2020 của UBND xã T về việc mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn D thì vào ngày 09/6/2020 ông M có đến UBND xã T báo là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D hiện đang do ông M giữ, không có mất. Sau đó UBND xã T đã có Giấy xác nhận số 22/XN-UBND ngày 09/7/2020 trả lời cho ông D về việc mất giấy đất hiện là do ông M đang giữ. Ông D không trung thực trong lời khai trình bày về nguồn gốc đất của mình được cấp quyền sử dụng đất; về việc quản lý sử dụng đất thì lúc đầu đất là của cá nhân ông D nay cho rằng là của hộ gia đình ông D nhưng cũng không có gì chứng minh cho lời trình bày này nên yêu cầu kháng cáo của ông D không được chấp nhận là có căn cứ đúng theo quy định pháp luật. Chị L2 không có yêu cầu gì trong vụ án, ông M trình bày nếu chị L2 có yêu cầu trả số tiền 450.000.000 đồng thì ông M đồng ý có trách nhiệm trả cho chị L2. Bà Nguyễn Thị Ê, chị Nguyễn Thị C, chị Phan Thị Mỹ D2 không có yêu cầu gì trong vụ án. Do đó không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông D, giữ nguyên bản án sơ thẩm là đúng theo quy định pháp luật. Tuy nhiên do để thuận tiện cho việc thi hành án nên cần ghi lại cách tuyên án.
[6] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn D, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Về chi phí, án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nên ông Nguyễn Văn D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn D.
- Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn D đối với yêu cầu buộc bị đơn ông Nguyễn Văn M và anh Nguyễn Văn L trả cho ông Nguyễn Văn D giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm:
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Văn D về việc buộc ông Nguyễn Văn M và anh Nguyễn Văn L trả giấy chứng nhận và diện tích 4.280m² (đất lúa) thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, địa chỉ các thửa đất tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp cho nguyên đơn Nguyễn Văn D.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn Văn M yêu cầu công nhận đối với Quyền sử dụng đất số D 0838716 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 22/9/1999 cho ông Nguyễn Văn D diện tích 4.280m² (đất lúa) thuộc thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 1, địa chỉ thửa đất tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (Đo đạc thực tế diện tích là 4.372,8m² được thể hiện từ mốc M1, M2, M3,M4, M5, M6, M7 về M1 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L) cho ông Nguyễn Văn M. Hiện phần đất này ông Nguyễn Văn M đang trực tiếp quản lý canh tác và sử dụng.
Quyền sử dụng đất thuộc diện tích 2.225m² (đất lúa) thửa 90, tờ bản đồ 28 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 04514, số bìa BU 133521 do UBND huyện L cấp ngày 19/5/2014 cho hộ ông Nguyễn Văn D, đất tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Quyền sử dụng đất diện tích 1.351m² (đất lúa), thuộc thửa 47, tờ bản đồ 28, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00100, số bìa BB 512100 do UBND huyện L cấp ngày 31/12/2010 cho hộ ông Nguyễn Văn D tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Trường hợp ông M, ông L, ông D không giao trả, không thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất nói trên thì đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi và cấp lại cho đương sự theo quy định pháp luật.
- Đình chỉ phần yêu cầu của bị đơn ông Nguyễn Văn M và anh Nguyễn Văn L trả tiền thuê đất từ năm 2015 đến năm 2020 là 25.000.000 đồng cho nguyên đơn Nguyễn Văn D.
- Về án phí, chi phí thẩm định:
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
5.1. Buộc ông Nguyễn Văn D phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm khấu trừ án phí đã nộp. Hoàn trả lại cho ông D số tiền 6.655.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng lệ phí, án phí Tòa án số 0010669, ngày 22/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
5.2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản buộc ông D nộp 6.848.000 đồng (ông D đã nộp xong).
Ông Nguyễn Văn D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0007412 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Ông D không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Chí Tâm |
Bản án số 300/2024/DS-PT ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất
- Số bản án: 300/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Nguyễn Văn Diêm BĐ: Nguyễn Văn Liền
