|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 300/2024/HSST Ngày: 12/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.
Các hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Vân
2/ Ông Nguyễn Văn Quản
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Hoàng Trúc – Cán bộ
Tòa án nhân dân Quận 12,Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nụ – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án nhân dân Quận 12 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 418/2024/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1728/2024/HSST-QĐ ngày 21/10/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức D, Giới tính: Nam. Sinh năm 1990; Tại: An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; Nơi ở hiện nay: Không có nơi ở nhất định. Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Nguyễn Đức L; H và tên mẹ: Nguyễn Thị T; hoàn cảnh gia đình: Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không.
Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 347/2023/HS-ST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ chí Minh, tuyên phạt Nguyễn Đức D 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 30/12/2023, D chấp hành xong hình phạt tù, ngày 27/12/2023 chấp hành xong nghĩa vụ án phí (BL 122 - 135).
Nhân thân:
- Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 11/2010/HSPT ngày 04/02/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang tuyên phạt Nguyễn Đức D 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 21/6/2011, D chấp hành xong hình phạt tù, ngày 15/11/2010 chấp hành xong nghĩa vụ án phí (BL 136 - 142).
- Ngày 12/01/2016, Tòa án nhân dân Quận 12 ban hành quyết định số 09/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức D, thời hạn 21 tháng, ngày 20/8/2017, D chấp hành xong (BL 143-144).
- Ngày 15/8/2018, Tòa án nhân dân Quận 12 ban hành quyết định số 460/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức D, thời hạn 18 tháng (BL 148-149).
- Ngày 19/5/2020, Tòa án nhân dân Quận 12 ban hành quyết định số 391/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức D, thời hạn 15 tháng, ngày 17/6/2021, D chấp hành xong (BL 145-146).
- Bị tạm giam từ ngày 09/7/2024 (BL 98; 99) - (có mặt).
*Người bị hại: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971.
ĐKTT: Ấp Phú Thuận A, xã Phú Lâm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
Trú tại: 121/33, đường TMT 13, khu phố 10, phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh - (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Trần Minh K, 1981.
Trú tại: 41/1, khu phố Đ, phường Đ, TP ., tỉnh Bình Dương- (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ ngày 27/6/2024, Nguyễn Đức D đi đến phòng trọ của bà Nguyễn Thị T, là mẹ ruột của D, địa chỉ số A đường T, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Do phòng trọ của bà T có 01 phòng, gồm 01 phòng ở tầng trệt và 01 phòng ở tầng 1. Tuy nhiên, do phòng trọ ở tầng trệt của bà T đã đóng cửa nên D ngồi bên ngoài chờ có người mở cửa thì đi theo vào bên trong. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, thấy có người mở cửa phía sau căn nhà nên D đi theo vào phòng trọ tầng trệt của bà T để ngủ. Tại đây, D thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu đen xám, biển số 67K2 – 001.35 đang dựng trong phòng trọ còn chìa khóa xe cất trong ngăn kéo tủ để dụng cụ cắt chỉ nên D nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô nêu trên để cầm cố lấy tiền trả nợ cho T1 (chưa rõ lai lịch). Sau đó, D kiểm tra thì phát hiện trong cốp có 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 67K2 – 001.35; 01 căn cước công dân và giấy phép lái xe tên Nguyễn Trọng T2, là em ruột của D.
Đến khoảng 06 giờ ngày 28/6/2024, sau khi bà T xuống tầng trệt mở cửa sau rồi đi lên trên tầng 1, D nhanh chóng đẩy lùi xe mô tô biển số 67K2 – 001.35 ra khỏi nhà rồi điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp được đến cửa hàng dịch vụ cầm đồ L1, địa chỉ số C đường T, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương do anh Trần Minh K làm chủ cầm cố được số tiền 22.000.000 đồng. D nói cho K biết xe mô tô biển số 67K2 – 001.35 do mẹ của D tên Nguyễn Thị T là chủ sở hữu, D không nói cho anh K biết xe mô tô nêu trên là do D trộm cắp mà có. D trả cho T1 số tiền 20.000.000 đồng, số tiền còn lại D đã tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 06 giờ 15 phút cùng ngày, bà Nguyễn Thị T phát hiện xe mô tô nêu trên bị mất trộm nên đã đến Công an phường T, Quận A trình báo sự việc.
Đến ngày 01/7/2024, Nguyễn Đức D đang lẩn trốn tại nhà không số, Tổ A, Khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì bị Công an phường T, Quận A mời về trụ sở làm việc, lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q giải quyết theo thẩm quyền. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Nguyễn Đức D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Bản cáo trạng 307/CT-VKS.Q12, ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố: Nguyễn Đức D về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Đức D khai nhận hành vi trộm cắp tài sản xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario của bà Nguyễn Thị T. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của của người bị hại, người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Người bị hại bà Nguyễn Thị T xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Duy
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Minh K yêu cầu bị cáo D hoàn trả số tiền 22.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Đức D về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Đức D không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Do lười lao động, cần tiền tiêu xài, Vào khoảng 06 giờ ngày 28/6/2024, Nguyễn Đức D đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu xanh đen, biển số 67K2 – 001.35 của bà Nguyễn Thị T tại nhà số A đường T, Khu phố A, phường T, Quận A rồi mang đến tiệm cầm đồ lấy tiền tiêu xài.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Đức D đã phạm tội Trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự
Về trách nhiệm hình sự:
Tại Kết luận định giá tài sản số 206/KL-HĐĐGTS ngày 08/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A, kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 125, màu xanh đen, biển số 67K2 – 001.35 trị giá 20.500.000 đồng (BL 70-73).
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự truy tố Nguyễn Đức D là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội
Ngày 29/8/2023 Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tuyên phạt Nguyễn Đức D 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 30/12/2023, D chấp hành xong hình phạt tù, ngày 27/12/2023 chấp hành xong nghĩa vụ án phí. Bị cáo chưa được xóa án tích lại phạm tội mới, lần này phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Đức D là nguy hiểm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang tuyên phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Năm 2016 bị Tòa án nhân dân Quận 12 đưa vào cơ sở cai nghiện thời hạn 21 tháng. Năm 2018, bị Tòa án nhân dân Quận 12 đưa vào cơ sở cai nghiện thời hạn 18 tháng. Năm 2020, bị Tòa án nhân dân Quận 12 đưa vào cơ sở cai nghiện thời hạn 15 tháng.
Bị cáo đã được Nhà nước đưa đi giáo dục nhiều lần trong nhiều năm nhưng không sửa chữa thành người có ích cho xã hội. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử bị cáo phải có tác dụng cải tạo và giáo dục, đồng thời làm gương cho những người khác.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét các tình tiết: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối, tài sản được thu hồi để trả lại cho người bị hại, người bị hại làm đơn xin bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ..... nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 125 và giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị T là chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả xe mô tô nêu trên cho bà T (BL 65; 75;76); Bà T không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Nguyễn Đức D mang xe trộm cắp đến cửa hàng dịch vụ cầm đồ L1 do anh Trần Minh K làm chủ. D nói cho anh K biết xe mô tô biển số 67K2 – 001.35 do mẹ của D tên Nguyễn Thị T là chủ sở hữu, D không nói cho anh K biết xe mô tô nêu trên là do D trộm cắp mà có. Anh Trần Minh K đồng ý cầm với số tiền 22.000.000 đồng. Anh K yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 22.000.000 đồng (BL 27), tại phiên tòa bị cáo đồng ý hoàn trả.
- Đối với 01 bản phô tô căn cước công dân số [...], tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2024
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Buộc Nguyễn Đức D hoàn trả số tiền 22.000.000 đồng cho anh Trần Minh K.
Kể từ ngày anh Trần Minh K có đơn yêu cầu Thi hành án, nếu bị cáo chậm trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả số tiền lãi chậm trả tương đương với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (01) Ma Văn Nhất |
Bản án số 300/2024/HSST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 300/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
