Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D
THÀNH PHỐ H


Bản án số: 30/2021/HS-ST
Ngày 23-11-2021
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Song Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Phạm Thanh Giản
  • Bà Tạ Thị Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trang Thanh – Thư ký Toà án nhân dân quận D, thành phố H.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Phạm H Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận D, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 315/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2021, đối với các bị cáo:

  1. Vũ Văn H, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1992 tại H. Nơi cư trú: Thôn Đức Phong, xã Đại Đồng, huyện Kiến Thụy, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn Xô (đã chết) và bà Nguyễn Thị Diền; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/7/2021, đến ngày 29/7/2021 chuyển tạm giam; có mặt.
  2. Nguyễn Sỹ T, sinh ngày 27 tháng 3 năm 1998 tại H. Nơi cư trú: Thôn Đức Phong, xã Đại Đồng, huyện Kiến Thụy, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Sỹ Thào (đã chết) và bà Hoàng Thị Miến; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/7/2021, đến ngày 29/7/2021 chuyển tạm giam; có mặt.
  • - Người làm chứng: Anh Đặng Xuân H, vắng mặt;
  • - Người chứng kiến: Anh Phạm Khắc Q, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 10 giờ 15 phút ngày 26/7/2021, tại tổ dân phố Đông Lãm, phường Đa Phúc, quận D, thành phố H Công an quận D phát hiện, bắt quả tang Vũ Văn H và Nguyễn Sỹ T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon kích thước (2x2)cm bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng cách chỗ T đứng khoảng 50cm; 01 xe môtô Biển kiểm soát 15K1-300.89. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng gửi giám định (bút lục 39 đến 44).

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Văn H và Nguyễn Sỹ T, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến ma túy (bút lục 34, 36).

Tại bản Kết luận giám định số 463/KLGĐ-MT ngày 28/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,23 gam, là loại Methamphetamine (bút lục 120).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận D, Vũ Văn H và Nguyễn Sỹ T khai nhận: Khoảng 9 giờ ngày 26/7/2021, H điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 15K1-300.89 đến nhà T rủ đi mua ma túy “đá” về cùng sử dụng, T đồng ý. Trên đường chở T đi, H đưa cho T 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng để mua ma túy. Đến khu vực bến xe miền Tây, phường Lãm Hà, quận Kiến An, thành phố H, H dừng xe ở đầu ngõ còn T đi bộ vào trong ngõ mua của một người phụ nữ không quen biết, 200.000đ được 01 gói ma túy được đóng gói trong túi nilon màu trắng kích thước (2x2)cm. Mua xong T cầm gói ma túy cất trong lòng bàn tay trái đi ra chỗ H đứng đợi bảo đi về, H chở T quay về đến tổ Đông Lãm, phường Đa Phúc, quận D, thành phố H thì bị lực lượng Công an quận D yêu cầu dừng xe kiểm tra, T liền vất gói ma túy đang cầm ở trong lòng bàn tay trái xuống mặt đường cách vị trí T khoảng 50cm nhưng bị lực lượng Công an bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong chứa ma túy còn lại sau giám định chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận D quản lý. 01 xe mô tô Biển kiểm soát 15K1- 300.89, kết quả điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Diền (là mẹ đẻ của Vũ Văn H). Bà Diền cho H mượn sử dụng để đi làm hàng ngày, không biết việc H sử dụng để đi mua ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe cho bà Diền (bút lục 157).

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Nguyễn Sỹ T, quá trình điều tra chưa xác định được căn cước lai lịch. Cơ quan cảnh sát điều ra Công an quận D tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Tại Bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 20 tháng 10 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố H truy tố Vũ Văn H và Nguyễn Sỹ T đồng phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, các bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D giữ quyền công tố luận tội:

Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Vũ Văn H và Nguyễn Sỹ T đồng phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, Điều 38 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn H với mức án từ 18 đến 24 tháng tù, bị cáo Nguyễn Sỹ T với mức án từ 12 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận D, thành phố H, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố H, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 26/7/2021, tại tổ dân phố Đông Lãm, phường Đa Phúc, quận D, thành phố H, Vũ Văn H và Nguyễn Sỹ T bị bắt quả tang khi đang cất giữ trái phép 0,23g Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của các bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận D, thành phố H truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vũ Văn H và Nguyễn Sỹ T đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tính chất vụ án, vai trò phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của từng bị cáo.

Các bị cáo tuy cùng phạm tội nhưng không có sự bàn bạc, phân công, cấu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên cũng cần phân tích, đánh giá vai trò của từng bị cáo để có cơ sở cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Trong vụ án này, bị cáo H là người khởi xướng, đồng thời chủ động đưa tiền cho bị cáo T mua ma túy nên bị cáo H giữ vai trò chính. Bị cáo T là người thực hành, có vai trò thấp hơn bị cáo H.

[6] Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và đặc điểm nhân thân của các bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Cả hai bị cáo Vũ Văn H và Nguyễn Sỹ T đều là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực nhận thức, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên các bị cáo đều thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc xử phạt các bị cáo hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo H có vai trò cao hơn bị cáo T nên bị cáo H phải chịu mức hình phạt cao hơn so với bị cáo T.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: Hiện Chi cục thi hành án dân sự quận D đang quản lý 01 phong bì niêm phong bên trong có số ma túy còn lại sau giám định. Xét thấy, số vật chứng này liên quan đến việc phạm tội, là vật cấm lưu hành nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

[09] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, Điều 38 điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt

Vũ Văn H 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26-7-2021

Nguyễn Sỹ T 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26-7-2021.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng số ma túy còn lại sau giám định (theo Biên bản bàn giao vật chứng ngày 25-10-2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận D, thành phố H).

Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:
- VKSND quận D;
- VKSND TP H;
- Cơ quan điều tra Công an Q.D;
- PV06; PC10;
- Chi cục THADS quận D;
- Sở Tư pháp;
- Trại tạm giam Công an TP H;
- Bị cáo;
- UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
- TAND TP H;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Song Hải
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2021/HS-ST ngày 23/11/2021 của Toà án nhân dân quận D, thành phố H về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 30/2021/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/11/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân quận D, thành phố H
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn H và đồng bọn tàng trữ ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger