TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2024 V/v: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Não Thiên Minh Trí và bà Hứa Thị mây Sum.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam tham gia phiên toà: Ông Lê Muộn - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 34/2024/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 24/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/7/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bạch Thị H, sinh năm: 1990 (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
Bị đơn: Anh Kiều Văn N, sinh năm: 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/3/2024, quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Bạch Thị H trình bày: Chị với anh Kiều Văn N tự nguyện tìm hiểu và tiến đến chung sống với nhau từ năm 2009 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T theo giấy chứng nhận kết hôn số 139, quyền số 01/09 ngày 24/11/2009. Sau khi kết hôn chị và anh N sống tại nhà cha mẹ chị ở cùng thôn. Quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2020 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh N thường xuyên ăn nhậu về đánh đập chị và các con, anh N nhiều lần xúc phạm cha mẹ chị nên làm vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến cuối năm 2021 anh N tự ý bỏ nhà đi làm ăn xa nên vợ chồng sống cách ly từ đó đến nay. Từ lúc bỏ đi đến nay anh N không liên lạc về cho chị và các con. Tuy nhiên vào các dịp lễ tết anh N có về thăm con. Nay chị xét thấy không còn tình cảm với anh N, vợ chồng đã không còn sống chung từ nhiều năm nay, không ai quan tâm tới ai, vì vậy chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Kiều Văn N.
- Về con chung: Chị với anh Kiều Văn N có 04 người con chung tên Kiều Tướng Hoàng Gia N1, sinh năm 2010, Kiều Tướng Q, sinh năm 2013, Kiều Nữ Gia H1, sinh năm 2018 và Kiều Gia Su H2, sinh năm 2021. Hiện các con đang sống cùng với chị, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi các con và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về phía bị đơn: Anh Kiều Văn N trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện các thủ tục niêm yết hợp lệ nhưng anh Kiều Văn N không đến Toà án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có lời trình bày.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Bạch Thị H, chị H được ly hôn anh N.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Bạch Thị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Bạch Thị H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, nuôi con với anh Kiều Văn N; anh Kiều Văn N có nơi cư trú tại V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam.
[2]. Về việc vắng mặt của các đương sự:
- Nguyên đơn chị Bạch Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H.
- Bị đơn anh Kiều Văn N đã được Tòa án tiến hành niêm yết hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh N.
[3]. Về nội dung vụ án:
[3.1]. Về hôn nhân: Chị Bạch Thị H và anh Kiều Văn N chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 139, quyền số 01/09, ngày 24/11/2009. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Bạch Thị H và anh Kiều Văn N là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.
[3.2]. Về tình trạng hôn nhân: Chị Bạch Thị H cho rằng vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 xảy ra mâu thuẫn do anh N thường xuyên đánh đập chị và các con, nhiều lần xúc phạm cha mẹ chị, hiện anh N đã không có mặt tại địa phương và vợ chồng đã sống cách ly từ năm 2021 đến nay không ai quan tâm tới ai. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện các thủ tục niêm yết theo quy định nhưng anh N không đến Toà, cũng không có văn bản trình bày ý kiến nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét nguyện vọng của anh N. Tại biên bản xác minh, chính quyền địa phương cho biết chị Bạch Thị H và anh Kiều Văn N có mâu thuẫn và đã không còn sống chung từ nhiều năm nay và hiện nay anh N không có mặt tại đại phương. Từ đó Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa chị H và anh N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P.
[3.3]. Về con chung: Chị Bạch Thị H và anh Kiều Văn N có 04 con chung tên Kiều Tướng Hoàng Gia N1, sinh ngày 19/7/2010, Kiều Tướng Q, sinh ngày 19/8/2013, Kiều Nữ Gia H1, sinh ngày 05/11/2018 và Kiều Gia Su H2, sinh ngày 01/5/20214, hiện các con đang sống cùng với chị H. Xét thấy, từ ngày chị H và anh N không còn sống chung với nhau thì chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và con vẫn phát triển bình thường, tại biên bản lấy lời khai các cháu N1 và Q đều có nguyện vọng được sống cùng với chị H. vì vậy, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi các con là phù hợp với nguyện vọng của các con và phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
[3.4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bạch Thị H tự nguyện không yêu cầu anh Kiều Văn N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bạch Thị H, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc chị Bạch Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 5 Điều 177, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều: 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bạch Thị Huỳnh .
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bạch Thị H được ly hôn anh Kiều Văn N.
- Về con chung: Giao 04 con chung tên Kiều Tướng Hoàng Gia N1, sinh ngày 19/7/2010, Kiều Tướng Q, sinh ngày 19/8/2013, Kiều Nữ Gia H1, sinh ngày 05/11/2018 và Kiều Gia Su H2, sinh ngày 01/5/20214 cho chị Bạch Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: Chị Bạch Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khẩu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà chị H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Toà án số 0002314 ngày 25/3/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Dương Khánh Hưng |
Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con
