|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG TỈNH HÀ GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31 - 07 - 2024 "V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Hải Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Quốc Thị Thanh Thảo
Bà Nguyễn Thị Kim Chung
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Chữ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Ngọc Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: chị Ma Thị T, sinh năm 1992; (vắng mặt)
- Nơi ĐKHKTT: thôn X, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang;
- Chỗ ở hiện nay: thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang;
- - Bị đơn: anh Lý Văn H, sinh năm 1990; (vắng mặt)
- Địa chỉ: thôn X, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn đề ngày 17/04/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Ma Thị T trình bày: Chị và anh Lý Văn H tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã V từ năm 2010 theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống đến năm 2017 anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H không chịu tu chí làm ăn, chơi bời, cờ bạc, gái gú, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hòa giải tại gia đình nhưng không khắc phục được.
Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và anh chị đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay xét thấy cuộc sống chung không có hạnh phúc, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lý Văn H. Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là cháu Lý Thị Mỹ H1, sinh ngày 23/06/2011. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và công nợ chung: chị T không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệp tập anh Lý Văn H nhiều lần nhưng anh H không có mặt để tham gia tố tụng, do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.
Tại các biên bản xác minh của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang với trưởng thôn Xuân D; công chức tư pháp UBND xã Vô Điểm; Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ xã V, bà Đào Thị D1 là mẹ đẻ của chị Ma Thị T, bà Lục Thị T1 là mẹ đẻ anh Lý Văn H, Phó Trưởng công an xã V phản ánh về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi con của chị Ma Thị T và anh Lý Văn H như sau: chị Ma Thị T và anh Lý Văn H về chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã V từ năm 2010 trên cơ sở tự nguyện, anh chị có 01 con chung là cháu Lý Thị Mỹ H1 sinh ngày 23/06/2011. Quá trình chung sống anh chị có mâu thuẫn trầm trọng và đã sống ly thân nhiều năm nay. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống lẫn tính cách. Anh H và chị T đều có hộ khẩu thường trú tại thôn X, xã V, anh chị đều là lao động tự do, hiện đi làm ăn xa, tuy nhiên thỉnh thoảng vẫn về địa phương xã V. Anh chị không đề nghị hòa giải việc mâu thuẫn vợ chồng tại UBND xã. Về việc nuôi con, hiện nay cháu H1 đang ở với mẹ và bà ngoại, nếu vợ chồng ly hôn, đề nghị giải quyết việc nuôi con theo nguyện vọng của cháu H1 và theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản lấy lời khai cháu Lý Thị Mỹ H1 sinh ngày 23/06/2011, cháu H1 có nguyện vọng được ở với mẹ vì cháu là con gái và thích ở với mẹ hơn.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không đến tham gia tố tụng mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Ma Thị T được ly hôn anh Lý Văn H. Về con chung: quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Lý Thị Mỹ H1, sinh ngày 23/06/2011, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Lý Thị Mỹ H1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: nguyên đơn là chị Ma Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn là chị Ma Thị T có đơn khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn là anh Lý Văn H, anh Lý Văn H có nơi cư trú tại thôn X, xã V, huyện B, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Ma Thị T vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lý Văn H vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị Ma Thị T và anh Lý Văn H.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Ma Thị T và anh Lý Văn H xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến năm 2017 anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và tính cách. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị Ma Thị T có yêu cầu xin ly hôn anh Lý Văn H. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Ma Thị T được ly hôn anh Lý Văn H.
[4] Về việc nuôi con: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là cháu Lý Thị Mỹ H1, sinh ngày 23/06/2011. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lý Thị Mỹ H1 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng, anh H không đến tham gia tố tụng và không trình bày ý kiến đề nghị giải quyết việc nuôi con; cháu Lý Thị Mỹ H1 là con gái, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ. Mặt khác, tại các biên bản xác minh điều kiện nuôi con với người thân và chính quyền địa phương cung cấp cháu H1 đang ở với mẹ và bà ngoại. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Lý Thị Mỹ H1 cho chị Ma Thị T trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị Ma Thị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, anh Lý Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[5] Về chia tài sản chung và công nợ chung: chị Ma Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Về án phí: nguyên đơn chị Ma Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ma Thị T được ly hôn anh Lý Văn H.
- Về việc nuôi con: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lý Thị Mỹ H1, sinh ngày 23/06/2011. Khi ly hôn chị Ma Thị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lý Thị Mỹ H1 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh Lý Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung chị T, anh H có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: chị Ma Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang theo biên lai số 0002076 ngày 22 tháng 04 năm 2024.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hải Hà |
Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án ly hôn H-T
