Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN THỤY

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST

Ngày 31-5-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Dịu.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Đặng Thị Đôi;

Bà Khúc Thị Minh.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2024/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị B, sinh năm 1993; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Hiện ở: Tổ dân phố Đ, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Duy K, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn ngày 05 tháng 01 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngô Thị B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị tự nguyện chung sống với anh Phạm Duy K từ tháng 9 năm 2016 và đến ngày 31 tháng 3 năm 2017 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng (Giấy chứng nhận kết hôn số 14). Vợ chồng chung sống đến giữa năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, không tin tưởng nhau trong quản lý kinh tế gia đình, anh K luôn làm theo ý mình, không tôn trọng ý kiến của chị, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình, thôn xóm khuyên giải nhưng không có kết quả nên chị phải về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 12 năm 2023 đến nay, không ai quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị xin ly hôn anh K.

Về con chung: Anh chị có 01 con là Phạm Hải Đ, sinh ngày 20/4/2017. Khi chị về bố mẹ đẻ ở, chị rất muốn mang cháu Đ về cùng nhưng do cháu Đ đang học dở lớp 1 Trường tiểu học xã T, chị chưa làm thủ tục chuyển trường cho cháu được nên cháu vẫn đang do anh K nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ đến khi đủ 18 tuổi (trên cơ sở nguyện vọng của cháu); không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại, chị làm công nhân, thu nhập trung bình 7.000.000 đồng/tháng, có chỗ ở ổn định; bên cạnh, còn có sự hỗ trợ, giúp đỡ của bố mẹ đẻ chị.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Phạm Duy K vắng mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.

Tại phiên tòa, chị B giữ nguyên toàn bộ nội dung, yêu cầu nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71, 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành quy định của pháp luật tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị B, cho chị Ngô Thị B được ly hôn anh Phạm Duy K.

Về con chung: Giao cháu Phạm Hải Đ, sinh ngày 20/4/2017 cho chị Ngô Thị B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Bằng k yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.

Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Ngô Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị B đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Ngô Thị B xin ly hôn anh Phạm Duy K và yêu cầu giải quyết nuôi con tại Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy. Anh K đang cư trú tại xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy.

[2] Về việc giải quyết vắng mặt đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, trên cơ sở lời khai và yêu cầu của nguyên đơn; Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án đối với anh K (bị đơn) nhưng anh K không đến Tòa án để trình bày lời khai; tham gia hòa giải; từ chối khai báo, vắng mặt không có lý do chính đáng, đến giai đoạn chuẩn bị xét xử; Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đối với anh K nhưng anh K vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh K.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị B xin ly hôn anh Phạm Duy K; căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như chính quyền xã T thì hôn nhân của chị Ngô Thị B và anh Phạm Duy K là hôn nhân hợp pháp. Thời gian chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn từ giữa năm 2023, do phong cách sống không phù hợp, không thống nhất trong quản lý kinh tế xây dựng gia đình, không tôn trọng nhau dẫn đến thường xuyên cãi chửi nhau. Chị B đã về nhà mẹ đẻ ở từ cuối năm 2023 đến nay, không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Như vậy đủ cơ sở xác định hôn nhân của anh chị thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài; yêu cầu xin ly hôn của chị B có cơ sở chấp nhận nên xử cho chị B được ly hôn anh K là phù hợp với các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cũng như quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[4] Về nuôi con chung: Anh chị có 01 con chung là Phạm Hải Đ, sinh ngày 20/4/2017. Chị B có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ đến khi đủ 18 tuổi; không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của chị B; ý kiến trình bày của đại diện gia đình chị B cũng như chính quyền xã T thì chị B làm công nhân tại Công ty TNHH G (Việt Nam) thu nhập trung bình 7.000.000 đồng/1 tháng, có chỗ ở ổn định, đủ điều kiện nuôi dưỡng cháu Đ. Anh K lao động tự do, công việc thường làm trong lĩnh vực xây dựng nhưng không ổn định; anh không thể hiện quan điểm, nguyện vọng của mình đến Tòa án. Mặt khác, nguyện vọng của cháu Đ được ở với chị B nên giao cháu Đ cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh K là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

[5] Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Ngô Thị B thuộc trường hợp được miễn, giảm án phí nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật không có giá ngạch.

[7] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị B được ly hôn anh Phạm Duy K.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Hải Đ, sinh ngày 20/4/2017 cho chị Ngô Thị B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Phạm Duy K.

Sau khi ly hôn, anh Phạm Duy K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Ngô Thị B phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0007856 ngày 12 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy. Chị B đã chịu đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị B có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Phạm Duy K có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Kiến Thụy;
  • - Chi cục THADS huyện Kiến Thụy;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Thuận Thiên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Dịu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger