|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/8/2024 V/v: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Kiên Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Quách Đình Mạnh.
- 2. Bà Nguyễn Thị Vĩnh .
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hoàn- Thư ký Tòa án nhân huyện Đông Hưng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Thu Huyền- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 85/2024/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024; về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Anh Phạm Bá B, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
(Có mặt nguyên đơn; vắng mặt bị đơn)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn, chị Nguyễn Thị D trình bày:
Chị và anh Phạm Bá B tìm hiểu tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 23/3/2012. Sau kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình nhà chồng tại xã Đ. Trong thời gian vợ chồng chung sống, anh B thường xuyên đi làm ăn xa nhà nên anh B phát sinh tình cảm với người phụ nữ khác dẫn tới việc vợ chồng hay xẩy ra va chạm, cãi nhau. Cuối năm 2014 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã H, huyện K ly thân với anh B từ đó đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh B.
Chị và anh B có 01 con chung là Phạm Bá Gia H, sinh ngày 30/01/2013. Từ khi vợ chồng sống ly thân con chung ở với chị. Ly hôn, chị xin được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị hiện nay làm Công nhân ở thành phố T, thu nhập bình quân của chị mỗi tháng từ 8.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng.
Chị và anh B không có tài sản chung và không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản.
* Anh Phạm Bá B có nơi trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Mọi văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đều được Tòa án tống đạt hợp lệ cho anh B theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh B không đến Tòa án để làm việc, không xuất trình tài liệu chứng cứ cho Tòa án và vắng mặt tại phiên tòa.
* Qua xác minh với ông Phạm Bá D1 (là bố đẻ của anh B) có nội dung:
Chị D và anh B đăng kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 23/3/2012. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống cùng gia đình ông tại xã Đ. Trong thời gian vợ chồng chung sống, anh B thường xuyên đi làm ăn xa nhà, khi về thì vợ chồng hay xẩy ra mâu thuẫn nhưng ông không biết nguyên nhân do đâu. Năm 2014 chị D đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở huyện K ly thân với anh B. Gia đình ông đã nhiều lần động viên cho chị D về đoàn tụ với anh B nhưng không thành. Tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án liên quan đến việc giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị D và anh B thì có lần anh B nhận trực tiếp, có lần gia đình ông nhận thay và thông báo cho anh B biết nội dung. Do anh B bận mải làm ăn không lên Tòa án làm việc được, chị D xin ly hôn thì quan điểm của anh B đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Chị D và anh B có 01 con chung là Phạm Bá Gia H, sinh ngày 30/01/2013. Từ khi chị D và anh B ly thân, con chung ở với chị D. Quan điểm của anh B, vợ chồng ly hôn thì con chung đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản: Ông không nắm được chị D và anh B có tài sản chung và nợ chung hay không.
* Xác minh tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình có nội dung: Anh Phạm Bá B có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình đăng ký kết hôn với chị Nguyễn Thị D người xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình vào ngày 23/3/2012. Trong thời gian chung sống chị D và anh B phát sinh mâu thuẫn và năm 2014 chị D đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã H, huyện K sinh sống từ đó đến nay. Chị D xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Chị D và anh B có 01 con chung là Phạm Bá Gia H, sinh ngày 30/01/2013, hiện con chung sinh sống cùng chị D. Ly hôn, về con chung đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án:
- - Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì.
- - Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
- - Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Phạm Bá B.
- - Về con chung: Áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Phạm Bá Gia H, sinh ngày 30/01/2013 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận việc chị D không yêu cầu anh B cấp dưỡng cho con chung.
- - Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- - Về án phí: Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
- - Bị đơn, anh Phạm Bá B có nơi cư trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Bị đơn, anh Phạm Bá B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh B.
* Về nội dung:
- Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị D và anh Phạm Bá B được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng mâu thuẫn và ly thân nhau đã lâu; cả hai không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng, anh B cũng không đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải và tham gia phiên tòa. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D.
- Về con chung: Con chung hiện đang sinh sống ổn định cùng chị D và con có nguyện vọng được tiếp tục ở với chị D; từ khi vợ chồng ly thân, chị D vẫn chăm sóc con chu đáo, đảm bảo việc học tập sinh hoạt của con. Chị D có thu nhập và nơi ở ổn định nên cần giao con chung cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung. Việc chị D không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về tài sản: Do chị D không yêu cầu giải quyết, anh B không có lời khai, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí : Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Chị D và anh B có quyền kháng cáo trong thời gian luật định.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Phạm Bá B.
- Về con chung:
- Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Xử giao con chung Phạm Bá Gia H, sinh ngày 30/01/2013 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng; chấp nhận việc chị Nguyễn Thị D không yêu cầu anh Phạm Bá B cấp dưỡng cho con chung.
Anh Phạm Bá B được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Anh Phạm Bá B và chị Nguyễn Thị D có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng cho con khi cần thiết.
Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm; Chuyển số tiền 300.000 đồng chị D đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003207 ngày 29/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng thành tiền án phí.
Chị Nguyễn Thị D được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Phạm Bá B được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Lê Kiên Trung |
Bản án số 70/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 70/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Nguyễn Thị Duyên - Phạm Bá Bốn
