|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày: 30 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Võ
Bà Phan Phương Huệ
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 30/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 19/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 8 năm 2024, đối với:
Bị cáo: Phạm Văn T, Sinh ngày: 08/02/1980 tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 02/12; Con ông: Phạm Thanh H, đã chết; Con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1960; Vợ: Nguyễn Hồng V, sinh năm 1983; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/9/2022, Phòng C - Công an tỉnh P Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “điều khiển xe trên đường mà hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở; không đội mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy khi điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ” với hình thức phạt tiền, tổng mức tiền phạt là 5.000.000 đồng. Bị cáo chưa chấp hành.
Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, huyện Đ. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 58 phút ngày 21/09/2022, tại Km 01+900 Quốc lộ G đoạn thuộc khu F, xã N, huyện Đ, tổ tuần tra của Phòng C - Công an tỉnh P lập biên bản vi phạm hành chính đối với Phạm Văn T sinh năm 1980 ở khu A, xã N, huyện Đ về hành vi “điều khiển xe trên đường mà hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở; không đội mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy khi điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ”. Quá trình kiểm tra, T xuất trình 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A2, số [...], do Sở G cấp ngày 10/03/2021 mang tên Phạm Văn T, sinh ngày 08/02/1980, ở khu D, xã N, huyện Đ. Phòng C đã tạm giữ Giấy phép lái xe mô tô của T. Quá trình xác minh xử lý hành vi vi phạm hành chính đối với T, Phòng C tra cứu không có Giấy phép lái xe của T trên hệ thống cơ sở dữ liệu Giấy phép lái xe quốc gia. Nghi ngờ giấy phép lái xe của T là giả, có dấu hiệu tội phạm nên Phòng C Công an tỉnh P đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ vi phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã trưng cầu Viện khoa học Hình sự - Bộ C1 giám định đối với Giấy phép lái xe hạng A2 mang tên Phạm Văn T mà Phòng C Công an tỉnh P đã thu giữ.
Tại Kết luận giám định số 2521/KL-KTHS ngày 26/4/2024, V1 - Bộ C1 kết luận:
“Giấy phép lái xe số [...] mang tên Phạm Văn T đề ngày 10/3/2021 (ký hiệu A) là Giấy phép lái xe giả, được làm giả bằng phương pháp in offset, in phun màu, in chuyển nhiệt.”
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn T khai nhận đã thuê người làm giả Giấy phép lái xe mô tô để sử dụng. Xét thấy hành vi của Phạm Văn T đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phạm Văn T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tiến hành điều tra làm rõ nội dung vụ án như sau:
Khoảng tháng 3 năm 2021, T đang bán hàng ăn ở số nhà A, ngõ B đường T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội thì có một người nam giới T không quen biết đến ăn tại quán. Qua nói chuyện, biết T chưa có giấy phép lái xe mô tô, người nam giới nói có thể làm Giấy phép lái xe mà không cần đi thi. Thấy vậy, T bảo người này làm cho T một Giấy phép lái xe mô tô để sử dụng lưu thông trên đường. Người nam giới đồng ý. Sau đó, người nam giới chụp lại hai mặt Chứng minh nhân dân của T do T cung cấp và dùng điện thoại chụp ảnh chân dung của T. Người nam giới hẹn khi nào làm xong Giấy phép lái xe mô tô mang đến đưa T thì T trả tiền. Khoảng một tuần sau, người nam giới đến quán của T đưa cho T 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A2 số [...], mang tên Phạm Văn T, cấp ngày 10/3/2021, do Sở G cấp. Người nam giới yêu cầu T trả chi phí làm Giấy phép lái xe mô tô là 860.000 đồng. T nhận Giấy phép lái xe mô tô và đưa 860.000 đồng cho người này. Sau khi làm được giấy phép lái xe giả, T và người nam giới trên không liên lạc với nhau nữa.
Ngày 21/09/2022, T điều khiển xe mô tô biển số 30K8-2286 lưu thông trên Quốc lộ G, khi đi đến đoạn thuộc khu F, xã N, huyện Đ thì bị Tổ tuần tra thuộc Phòng C - Công an tỉnh P kiểm tra, tạm giữ Giấy phép lái xe mô tô của Thăng nêu trên. Ngày 28/9/2022, Phòng C - Công an tỉnh P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T, hình thức phạt tiền, tổng mức tiền phạt là 5.000.000 đồng. Đến nay, T chưa chấp hành quyết định xử phạt hành chính.
Tại bản Cáo trạng số: 25/CT-VKS-ĐH ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo: Phạm Văn T về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức" theo quy định tại Khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức"
Áp dụng: Khoản 1 Điều 341, Điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Khấu trừ thu nhập: 5% thu nhập hàng tháng để sung vào công quỹ nhà nước.
Về vật chứng: Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A2 số [...], mang tên Phạm Văn T do Sở giao thông vận tải thành phố G cấp ngày 10/3/2021, đây là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo T, cơ quan điều tra đã thu giữ, cần lưu hồ sơ vụ án.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với vật chứng, kết quả giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 03/2021, Phạm Văn T sinh năm 1980 ở khu A, xã N, huyện Đ đã cung cấp thông tin của mình, nhờ người làm giả 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A2 mang tên bị cáo. Giấy phép lái xe này ghi do Sở giao thông vận tải thành phố G cấp. Sau khi có giấy phép lái xe giả, T sử dụng để tham gia giao thông. Ngày 21/09/2022, T điều khiển xe mô tô vi phạm luật Giao thông đường bộ bị Phòng C - Công an tỉnh P kiểm tra, T đã sử dụng giấy phép lái xe giả xuất trình cho Phòng C - Công an tỉnh P nhằm tránh bị xử lý vi phạm về lỗi không giấy phép lái xe mô tô. Hành vi của bị cáo T đã cấu thành tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “ Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm”
[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Chỉ vì nhằm tránh bị xử lý vi phạm về lỗi không giấy phép lái xe mô tô, bị cáo đã sử dụng giấy phép lái xe giả điều khiển xe mô tô tham gia giao thông vi phạm luật giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, làm ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của cơ quan Nhà nước. Do đó, phải xử lý nghiêm và có hình phạt thích đáng, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4]. Về Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo qui định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội, nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên phiên tòa là phù hợp.
[6]. Về khẩu trừ thu nhập: Bị cáo hiện là lao động tự do có mức thu nhập khoảng 4.000.000đ/tháng. Do đó cần khấu trừ của bị cáo 5% mức thu nhập hàng tháng tương đương số tiền 200.000đ/ tháng để nộp vào ngân sách nhà nước là phù hợp.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 của Bộ luật hình sự. Bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[8]. Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A2 số [...], mang tên Phạm Văn T do Sở giao thông vận tải thành phố G cấp ngày 10/3/2021, đây là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo T, cơ quan điều tra đã thu giữ, cần lưu hồ sơ vụ án.
[9]. Đối với hành vi vi phạm hành chính điều khiển xe mô tô trên đường mà hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở; không đội mũ bảo hiểm cho người đi xe mô tô, xe gắn máy khi điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ của T, Phòng C - Công an tỉnh P ra Quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật.
[10]. Đối với người nam giới đã làm giả giấy phép lái xe cho Phạm Văn T do chưa làm rõ được là ai, ở đâu nên không đề cập xử lý. Sau này làm rõ được sẽ xử lý sau.
[11]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 341; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “ Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".
- Về hình phạt:
- + Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đ, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- + Khấu trừ thu nhập: Khấu trừ 5% thu nhập hàng tháng của bị cáo tương đương số tiền 200.000đ/tháng để sung công quỹ Nhà nước trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
- Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
- + Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- Lưu hồ sơ vụ án: 01 giấy phép lái xe hạng A2 số [...], mang tên Phạm Văn T do Sở giao thông vận tải thành phố G cấp ngày 10/3/2021, cơ quan điều tra đã thu giữ.
- Về án phí:
- Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký) Nguyễn Khanh |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “ Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
