TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 30/2024/DS-ST Ngày: 23-7-2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Ngọc Thanh Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thuận
- Ông Nguyễn Thế Tự
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Cẩm Giang – Thư ký tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trung – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 168/2023/TLST-DS, ngày 05 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐST – DS, ngày 26 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Phương T, sinh năm: 1988
- Bị đơn: Bà Nguyễn Kim P, sinh năm: 1969
Địa chỉ: Ấp Tân Phú B1, xã Tân Phước Hưng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Các đương sự có mặt tại phiên toà
1
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp tọa lạc tại Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CV 110192, số vào sổ cấp GCN: CS02428 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 24/7/2020 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P, tỉnh Hậu Giang chỉnh lý biến động theo hồ sơ số 056830.TA.001 vào ngày 24/8/2020 sang nguyên đơn đứng tên sở hữu.
Vào ngày 25/6/2023, bà Nguyễn Kim P tiến hành xây dựng lối đi trái phép lấn sang phần đất của nguyên đơn với chiều ngang là 01m, chiều dài là 22,08m, tổng diện tích lấn chiếm là 22,08m, tôi có nói rõ với bà P là tôi không đồng ý cho bà P xây dựng nhưng bà P vẫn ngoan cố xây dựng không quan tâm tới lời nguyên đơn nói mà tiếp tục đổ vật liệu xây dựng mà còn dùng lời lẽ đe dọa đòi đập và còn thách thức nguyên đơn đi kiện. Dù tôi ngăn cản hay giải thích như thế nào thì bà P vẫn không ngưng lại hành vi lấn chiếm đất của tôi trái pháp luật, bà P hoàn thành xây dựng lối đi trên phần đất của tôi sở hữu vào ngày 27/6/2023.
Sự việc trên xảy ra tôi có làm đơn và gửi đến chính quyền địa phương xem xét, giải quyết. Chính quyền cũng có mời các bên lên để động viên, hòa giải nhưng không thành.
Xét thấy quyền lợi của mình bị xâm phạm bởi hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của bà P nên nay tôi khởi kiện bà Nguyễn Kim P với các yêu cầu như sau:
- Yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Kim P phải hoàn trả lại cho nguyên đơn phần đất (theo kết quả đo đạc thực tế) mà bà P hiện lấn chiếm với chiều ngang 1,40m, chiều dài 25.05m, tổng diện tích là 35.07m;
2
- Yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Kim P phải tháo dỡ, di dời toàn bộ các công trình, kiến trúc trên phần đất hiện nay đang lấn chiếm và trả lại nguyên trạng như ban đầu phần đất này cho nguyên đơn.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn thống nhất với mảnh trích lục địa chính của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện P số 50/2024, ngày 20/03/2024 và thống nhất với chứng thư thẩm định giá của công ty Đ.
Bị đơn Nguyễn Kim P trình bày: Cha mẹ tôi là ông Nguyễn Văn Ú và bà Trần Thị Ú1 có sở hữu phần đất và cho tặng các con mỗi người một thửa đất để sinh sống. Trong đó, có thửa đất bao gồm phần mộ của ông bà do Nguyễn Văn T1 (anh trai thứ bảy của tôi) được thừa kế sở hữu. Khi tất cả các con trong gia đình nhận thừa kế sở hữu phần đất do cha mẹ để lại đều thống nhất sau này nếu bất kỳ ai sở hữu phần đất trên đều phải để lại phần mộ và con đường đi ra phần mộ.
Sau này, ông Nguyễn Văn T1 đã để lại phần đất trên lại cho ông Nguyễn Văn T2 (em trai thứ chín của tôi). Cho đến hiện nay, Nguyễn Phương T được thừa kế sở hữu phần đất này từ ông Nguyễn Văn T2.
Khoảng 02 tháng trước, do lối đi vào phần mộ đã xuống cấp, sụp lúng nên các anh em trong gia đình thỏa thuận làm lối đi có diện tích 22,8 mét vuông từ mí lộ ra tới phần mộ để thuận tiện cho việc đi lại trông coi, thờ cúng và được sự đồng ý thống nhất của Nguyễn Phương T. Theo đó, mọi người tiến hành thi công và tôi chịu trách nhiệm quản lý việc làm con đường đi ra phần mộ này.
Vụ việc sẽ không có vấn đề gì nếu Nguyễn Phương T giữ đúng lời hứa. Tuy nhiên, vì mâu thuẫn cá nhân giữa tôi và T mà hiện nay Nguyễn Phương T3 khởi kiện tôi yêu cầu Tòa án giải quyết: “Yêu cầu bị đơn trả lại phần đất đã lấn chiếm 22,8 mét vuông và di dời toàn bộ công trình, kiến trúc có trên phần đất đã lấn chiếm”.
Nhận thấy, điều này là hết sức vô lý. Bởi lẽ, nguồn gốc phần đất này là do ông bà để lại. Mỗi người là con, cháu trong gia đình đều có trách nhiệm
3
thờ cúng, bảo quản và tạo điều kiện thuận lợi để việc hương quả được dễ dàng hơn. T là con cháu nên có trách nhiệm đóng góp một phần hương quả nhưng chúng tôi không hề đòi hỏi việc đó. Mà anh em chúng tôi chỉ xin ý kiến được làm lối đi ra phần mộ hiện nay do T là chủ sở hữu. Tuy nhiên, T lại vì “lòng riêng” mà không giữ lời hứa, khởi kiện tôi yêu cầu trả lại phần đất 22,8 mét vuông đã lấn chiếm.
Bị đơn thống nhất thống nhất với mảnh trích lục địa chính của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện P số 50/2024, ngày 20/03/2024 và thống nhất với chứng thư thẩm định giá của công ty Đ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp trình bày ý kiến:
Quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án, Tòa án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; về nội dung vụ án, Kiểm sát viên đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí dân sự và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về quyền sử dụng đất, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp theo quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hội đồng xét xử nhận định: bà Nguyễn Kim P phải hoàn trả lại cho nguyên đơn phần đất mà bà P hiện lấn chiếm với chiều ngang theo kết quả đo đạc thực tế tại mảnh trích 50/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai ngày 20/3/2024 là chiều ngang 1,40m, chiều dài 25.05m, tổng diện tích là 35.07m vì nguyên đơn cho rằng phần diện tích này nằm trong giấy chứng nhận của nguyên đơn và bị đơn tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc trên phần đất tranh chấp.
4
Về nguồn gốc đất và lịch sử sử dụng đất: Nguồn gốc đất tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn khai thống nhất với nhau;
[2.1] Đối với thực tế sử dụng đất của các đương sự:
Trên phần đất tranh chấp theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/4/2023 thể hiện phần đất của nguyên đơn sử dụng ngang 10.20m, phần đất bị đơn sử dụng có diện tích ngang trước là 2,75m; phần đất tranh chấp là hàng rào có diện tích là 0.05m. đối chiếu theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn và bị đơn thì thấn rằng diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn là 2.75m + 0.05m = 3.00m, còn nếu như cộng phần đất của bị đơn thì thấy rằng 10.20m + 0.05m = 10.25m là nhiều hơn so với diện tích được cấp và theo lượt đồ giải thửa của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện P thì phần đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn do đó Hội đồng xét xử thấy rằng: yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn trả lại phần diện tích ngang 0.05m dài 8.1m cho ông Đinh Văn T4, ông Đinh Văn N phải tháo dỡ toàn bộ hàng rào xây dựng trên phần đất của ông Đinh Văn T4. (Kèm theo lược đồ giải thửa ngày 26/10/2023) của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P.
[4] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên của nguyên đơn nên các bị đơn phải chịu toản bộ
[6] Về chi phí tố tụng khác:
Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu toản bộ chi phí xem xét thẩm định và định giá.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
5
- Căn cứ: khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; các Điều 147; 157; 165; khoản 2 Điều 228; Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 100; 202; 203 Luật đất đai năm 2013.
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Buộc bà Nguyễn Kim P giao trả phần diện tích chiều ngang là 01m, chiều dài là 22,08m, tổng diện tích lấn chiếm là 22,08m, cho bà Nguyễn Phương T, bà Nguyễn Kim P phải tháo dỡ toàn bộ hàng rào xây dựng trên phần đất của bà Nguyễn Phương T.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1.127.000đ (Một triệu một tram hai mươi bảy nghìn đồng). Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo phiếu thu số PT2024/0043 ngày 05/10/2024 tại Chi cục thia hành án dân sự huyện P
[3] Chi phí xem xét thẩm định và định giá: Buộc bà Nguyễn Kim P phải chịu là 8.000.000đ (Tám triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá. Bà Nguyễn Phương T được nhận lại 8.000.000đ (Tám triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá sau khi bà Nguyễn Kim P nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp. Kể từ ngày N1 có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Bị đơn chậm thi hành đối với các khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng bị đơn còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều
6
6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Ngọc Thanh Hà |
7
Bản án số 30/2024/DS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 30/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
