|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST Ngày 30-5-2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Mão
Bà Bùi Thị Kiểm
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 94/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 239/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 240/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Cao Tiến T; nơi cư trú: Số B V, phố B, huyện N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Phạm Hồng N; nơi cư trú: Số D CT3 Đ41 phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện, Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Cao Tiến T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Hồng N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, đám cưới tổ chức theo phong tục Việt Nam. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình ngày 16/11/2020
Sau khi kết hôn, anh chị sống hòa thuận đến tháng 9 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến việc vợ chồng xảy ra xô sát cãi nhau. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhiều nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trở lên trầm trọng. Từ tháng 9/2022 đến nay, anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau về mọi mặt. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, sống chung không có hạnh phúc đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị N.
- Về con chung: Anh và chị N có một con chung là Cao Phạm Nhật A, sinh ngày 03/10/2020. Ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao con chung cho anh trực tiếp nuôi đến khi con đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn chị Phạm Hồng N vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có bản tự khai thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn chị N cũng như tống đạt các văn bản của Tòa án: Thông báo thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho chị N nhưng tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải chị N đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Anh Cao Tiến T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố lời khai của anh T, nội dung vẫn giữ nguyên quan điểm như tại quá trình giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thởi điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng, vi phạm quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử: Về quan hệ hôn nhân: Anh Cao Tiến T được ly hôn chị Phạm Hồng N. Về việc nuôi con: Giao con Cao Phạm Nhật A, sinh ngày 03/10/2020 cho anh T trực tiếp nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh T và chị N tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết. Về việc chia tài sản: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Anh T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chị Phạm Hồng N cư trú trên địa bàn quận N nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Anh Cao Tiến T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị Phạm Hồng N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
+ Về quan hệ hôn nhân:
[3] Anh Cao Tiến T và chị Phạm Hồng N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn của anh T và chị N qua các tài liệu, chứng cứ Tòa án đã thu thập thể hiện quá trình chung sống, anh chị có phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống. Hiện anh T và chị N đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau về tình cảm và kinh tế. Xét mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình mà ở đó vợ chồng phải biết yêu thương, tôn trọng chăm sóc, giúp đỡ nhau, phải được xây dựng trên nền tảng tình cảm, sự nỗ lực từ hai phía của cả hai bên vợ và chồng. Trên thực tế, quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị N
+ Về việc nuôi con:
[4] Anh Cao Tiến T và chị Phạm Hồng N có một con chung là Cao Phạm Nhật A, sinh ngày 03/10/2020. Từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu Nhật A đều ở với anh T đồng thời anh T có công việc, thu nhập ổn định và chỗ ở đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc con. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị N không đến Toà án làm việc, không có ý kiến gì về việc nuôi con. Do đó, yêu cầu của anh T về việc giao con Cao Phạm Nhật A cho anh trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh T đề nghị anh và chị N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về việc chia tài sản:
[5] Anh Cao Tiến T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[6] Anh Cao Tiến T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
[7] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh Cao Tiến T được ly hôn chị Phạm Hồng N.
- - Về việc nuôi con: Giao con Cao Phạm Nhật A, sinh ngày 03/10/2020 cho anh Cao Tiến T trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh Cao Tiến T và chị Phạm Hồng N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- - Về việc chia tài sản: Anh Cao Tiến T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh Cao Tiến T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0003015 ngày 18/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Anh Cao Tiến T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo đối với bản án: Nguyên đơn anh Cao Tiến T và bị đơn chị Phạm Hồng N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Đương sự; - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - UBND phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (ĐKKH ngày 16/11/2020); - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Huyền |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hà Thị Mão Bùi Thị Kiểm |
Nguyễn Thị Thu Huyền |
Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
