|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2023/HNGĐ-PT Ngày: 29/11/2023 "V/v: Chia tài sản chung sau ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Vũ Thanh Tuấn
Ông Nguyễn Xuân Trường
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm, thụ lý số 21/2023/TLPT-HNGĐ ngày 05/10/2023, về việc "Chia tài sản chung sau ly hôn". Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 37/2023/HNGĐ- ST ngày 19/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXPT- HNGĐ ngày 18/10/2023, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Tăng Thị Y sinh năm 1972 ( có mặt).
Địa chỉ: Khu B, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân P sinh năm 1944 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị L - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H ( có mặt).
- Người làm chứng:
- + Bà Nguyễn Thị H sinh năm 1964 ( vắng mặt).
- + Ông Lê Khắc T sinh năm 1963 ( vắng mặt).
- + Ông Tăng Kim Q sinh năm 1968 ( có mặt).
Đều có địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- + Bà Nguyễn Thị Thu H1 sinh năm 1970 ( vắng mặt).
- Địa chỉ: Số B đường T, phường T, TP B, tỉnh Bắc Ninh.
- + Chị Nguyễn Thị Thủy C sinh năm 2004 (vắng mặt).
- + Chị Nguyễn Thị Kim N sinh năm 2007 ( vắng mặt).
- Đều có địa chỉ: Khu B, phường V, TP B, tỉnh Bắc Ninh.
Người kháng cáo: Bà Tăng Thị Y – Nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm 37/2023/HNGĐ- ST ngày 19/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung được tóm tắt như như sau:
* Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn bà Tăng Thị Y trình bày:
Bà Y với ông P trước đây là vợ chồng, nhưng đã ly hôn theo Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của đương sự số 15/2010/QÐST-HNGĐ ngày 10/02/2010 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Tại thời điểm ly hôn, bà chưa yêu cầu giải quyết chia tài sản chung. Tài sản chung của bà và ông P gồm, thửa đất số 54, tờ bản đồ số 31 diện tích đo đạc thực tế 668,2m² đất (thửa đất này nhận chuyển nhượng từ ông T, bà H) và thửa đất số 04, tờ bản đồ số 27, diện tích đo đạc thực tế là 505,7m² đất (thửa đất này nhận chuyển nhượng từ ông Q, bà N1), địa chỉ tại thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Nguồn tiền để mua nhà đất là của bà với ông P, trong đó bà có đưa cho ông P 17.000.000đồng, để ông P nhận chuyển quyền các tài sản trên, trả tiền cho bên chuyển nhượng nhà đất.
Nay bà Y đề nghị chia tài sản sau khi ly hôn, cụ thể chia đều mỗi người ½ diện tích đất, theo hướng kéo một đường thẳng từ phía bắc đến phía nam làm ranh giới phân chia đất và tài sản trên đất, nếu đường ranh giới phạm vào tài sản của ai thì người đó tự tháo dỡ để tạo ranh giới thửa đất. Giả xử, các thửa đất nói trên không phải là tài sản chung, bà đề nghị được hưởng công sức quản lý, duy trì thửa đất, xin được hưởng bằng hiện vật là đất để làm nhà ở, vì hiện nay bà không có chỗ ở. Đối với toàn bộ tài sản trên đất nói trên, bà Y không yêu cầu giải quyết, không tính giá trị. Ngoài nội dung trên, bà Y không đề nghị giải quyết thêm nội dung nào khác.
* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Xuân P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân, thời điểm ly hôn như bà Y trình bày là đúng, ông không có ý kiến gì. Đối với yêu cầu của bà Y xác định thửa đất số 54, tờ bản đồ số 31 và thửa đất số 04, tờ bản đồ số 27, đều có địa chỉ tại thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương là tài sản chung giữa ông với bà Y, ông không đồng ý, vì các thửa đất nói trên do ông tự nhận chuyển quyền từ vợ chồng ông Q, vợ chồng ông T, đồng thời sau khi nhận chuyển quyền khối tài sản, ông đã tự sửa chữa, xây dựng thêm một gian nhà, nhà bếp, đào ao, xây tường bao thửa đất trước thời điểm kết hôn với bà Y (ngày 05/9/2004). Nguồn tiền để nhận chuyển quyền khối tài sản trên, sửa chữa, xây dựng, tạo lập thêm tài sản trên đất là của ông, đồng thời ông chưa bao giờ nhận 17.000.000đ của bà Y để thanh toán trả tiền cho ông T, ông Q như bà Y trình bày. Sau khi nhận chuyển quyền khối tài sản trên và sau khi ông với bà Y ly hôn (ngày 10/2/2010) ông đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất nói trên mang tên ông, nên đây là tài sản riêng của ông. Trường hợp, bà Y xác định nếu khối tài sản nói trên không phải là tài sản chung thì đề nghị Toà án xem xét công sức quản lý, duy trì thửa đất để trích trả công sức bằng hiện vật là quyền sử dụng đất, ông không đồng ý, vì bà Y chỉ sinh sống trên đất chưa được 05 năm (2004-2008) đã rời bỏ, không sinh sống trên các thửa đất từ thời điểm đó cho đến nay. Sau ngày kết hôn (ngày 05/9/2004), ông mới đón bà Y về ở cùng với ông tại các thửa đất nói trên, nhưng ông vẫn là người quản lý, trông coi tài sản, nên bà Y không có công sức quản lý, duy trì đối với khối tài sản trên. Do vậy, ông P không chấp nhận trích trả công sức của bà Y, đồng thời đề nghị Toà án xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Y. Về tài sản trên đất, ông P không yêu cầu Toà án giải quyết, không tính trị giá. Ngoài nội dung trên ông P không đề nghị giải quyết thêm nội dung nào khác.
- - Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ông Lê Khắc T, bà Nguyễn Thị H xác định: Ông bà là người chuyển quyền nhà đất cho ông P, đồng thời ông P là người trực tiếp trả tiền. Từ trước đến nay ông bà không giao dịch về tài sản với bà Y và không nhận tiền từ bà Y liên quan đến việc chuyển quyền sử dụng nhà, đất tại thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- - Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng, ông Tăng Kim Q trình bày: Ngày 8/9/2003 ông có trực tiếp giao dịch chuyển nhượng đất cho ông P diện tích đất thổ cư là hơn 500 m² trên đất có nhà cấp 4 và cây cối hoa màu. Ông và bà N1 đã ký vào đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông P. Ông P là người trực tiếp trả tiền ông.
- - Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng bà Nguyễn Thị Thu H1 xác định: Bà Y có tham gia đóng tiền bảo hiểm nhân thọ tại B tỉnh Bắc Ninh, thời gian 1998-2003, đến năm 2003 khi hết hạn đóng bảo hiểm nhân thọ, bà H1 có đưa bà Y đi lĩnh tiền tại Bảo hiểm Bảo việt nhân thọ tỉnh B với số tiền 17.000.000đồng, bà Y là người trực tiếp nhận tiền. Đối với số tiền 17.000.000đồng, bà Y đưa tiền cho ai, sử dụng vào mục đích gì, bà không biết.
Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 37/2023/HNGĐ- ST ngày 19/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đã căn cứ vào các Điều 147, 157, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 357, 466, 468 của Bộ luật Dân sự. Các Điều 43, 44, 45 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Tăng Thị Y.
- Xác định thửa đất số 54, tờ bản đồ số 31, được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/5/2020; thửa đất số 04, tờ bản đồ số 27, được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T, tỉnh Hải Dương xác nhận ngày 16/5/2011, địa chỉ thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương là tài sản riêng của ông Nguyễn Xuân P. (Có sơ đồ kèm theo bản án).
- Áng trích một phần tài sản trong khối tài sản của ông Nguyễn Xuân P là thửa đất số 54, tờ bản đồ số 31; thửa đất số 04, tờ bản đồ số 27, địa chỉ tại thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, tính giá trị bằng tiền là 2.029.630.000đ x 5%, thành tiền 101.481.500đ.
Buộc ông Nguyễn Xuân P thanh toán trả công sức quản lý, duy trì cho bà Tăng Thị Y với tổng số tiền 101.481.500đ.
Ngoài ra bản án còn quyết định về chi phí thẩm định giá, lãi suất đối với số tiền chậm trả, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30 tháng 7 năm 2023 bà Tăng Thị Y có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét trích 1 phần đất là tài sản riêng của ông P cho cháu Nguyễn Thị Thủy C là con gái lớn của ông P, bà Y.
Tại phiên tòa bà Y vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bà cho rằng toàn bộ diện tích đất đứng tên ông P là tài sản chung của bà và ông P. Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ông P có quan điểm không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà Y, đồng thời giữ nguyên quan điểm xác định thửa đất số 54 và thửa đất số 04 là tài sản riêng của ông. Ông không đồng ý chia đất cho bà Y.
Người bảo vệ quyền và lợi ích của ông P có quan điểm: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy nguồn gốc cả 2 thửa đất đang tranh chấp là của ông P mua của vợ chồng ông Q, bà N1; ông T, bà H trước khi kết hôn với bà Y. Khi mua ông P là người trực tiếp trả tiền. Hợp đồng chuyển nhượng đất cũng thể hiện ông P là người ký tên, nên các tài sản này đều hình thành trước khi ông P kết hôn với bà Y. Sau khi kết hôn ông P không nhập các tài sản này vào tài sản chung vợ chồng. Ông P cũng không nhận 17.000.000 đồng của bà Y để mua đất. Do vậy có căn cứ xác định thửa đất số 54 và thửa đất số 04 nêu trên là tài sản riêng của ông P. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Y, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ lời khai của các đương sự, căn cứ lời khai của người làm chứng và kết quả xác minh cho thấy thửa đất số 54 và thửa đất số 04 là của ông P mua của ông T, bà H; ông Q, bà N1. Bà Y cho rằng bà đã góp với ông P 17.000.000 đồng mua đất nhưng ông P không thừa nhận, bà Y cũng không đưa ra được căn cứ chứng minh nên không có căn cứ xác định có việc bà Y góp tiền với ông P để mua đất. Quá trình chung sống ông P không nhập khối tài sản này vào tài sản chung vợ chồng. Do vậy không có căn cứ xác định 2 thửa đất trên là tài sản chung của bà Y và ông P, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Y. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bà Y phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xác minh thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Tăng Thị Y kháng cáo trong thời hạn luật định, nên kháng cáo hợp lệ.
[2] Xét kháng cáo của bà Y, Hội đồng xét xử thấy: Bà Y cho rằng nguồn gốc thửa đất số 54, tờ bản đồ số 31 diện tích đo đạc thực tế 668,2m² và thửa đất số 04, tờ bản đồ số 27, diện tích đo đạc thực tế là 505,7m², đều có địa chỉ tại thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, hiện đứng tên ông P là tài sản chung của bà và ông P nên đề nghị chia cho bà ½ đất. Tuy nhiên xem xét về thời điểm hình thành lên 2 khối tài sản trên thì thấy, cả 2 thửa đất trên đều được ông P mua vào thời điểm trước khi ông P và bà Y kết hôn. Cụ thể ông P và bà Y kết hôn vào ngày 5/9/2004, nhưng thửa đất số 04 được ông P mua của ông Q, bà N1 vào ngày 8/9/2003. Đến ngày 16/5/2011 (sau khi ông P, bà Y ly hôn) thì ông P đã được Ủy ban nhân dân huyện T xác nhận quyền sử dụng hợp pháp tại trang 3 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với thửa đất số 54 được ông P mua của vợ chồng ông T, bà H ngày 8/9/2003, đến ngày 14/5/2020 ông P đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy đối với cả 2 thửa đất trên đều được ông P mua vào thời điểm trước khi ông P và bà Y kết hôn, sau khi ông ông P và bà Y ly hôn thì ông P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Xem xét về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 2 thửa đất trên thì thấy, ngày 08/9/2003 ông T, bà H là người đã có đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nội dung thể hiện, ông T, bà H chuyển nhượng cho ông P 2 mảnh đất. Mảnh thứ nhất có diện tích là 720 m², mảnh thứ 2 có diện tích là 984 m², với tổng số tiền là 95.000.000 đồng. Vợ chồng ông T, bà H đã nhận đủ số tiền, đề nghị Ủy ban nhân dân huyện T sang tên cho ông Nguyễn Xuân P. Ông P đã ký ở dưới với tư cách là người mua ( BL 06).
Cũng cùng ngày 8/9/2003 ông Q và bà N1 cũng có đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất, với nội dung ông Q, bà N1 có bán cho ông P một mảnh đất thổ cư, có nhà cấp 4 trên đất với giá 15.000.000 đồng, và 1 mảnh đất 721 với giá là 6.000.000 đồng. Ông P có ký với tư cách là người mua ( BL 39) bà Y không ký vào các hợp đồng này.
Xem xét về nguồn tiền mua đất thì thấy: Theo ông P trình bày khi quen với bà Y ông được bà Y đưa về quê chơi, đồng thời ông được bà Y giới thiệu để mua đất của vợ chồng anh trai bà Y là ông Q, bà N1, sau đó ông đã mua thêm đất của ông T và bà H. Nguồn tiền là của ông, khi mua ông là người trực tiếp trả tiền và ký hợp đồng. Sau khi ly hôn với bà Y ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà Y không có tiền góp với ông và ông cũng không nhận 17.000.000 đồng của bà Y. Bà Y cho rằng nguồn tiền là của vợ chồng, trong đó bà có 17.000.000 đồng rút từ tiền bảo hiểm để đưa cho ông P trả tiền đất. Tuy nhiên bà H1 là người làm chứng chỉ xác nhận có đưa bà Y, ông P đi rút tiền bảo hiểm nhân thọ, bà Y là người trực tiếp nhận tiền, còn sau đó bà Y sử dụng số tiền đó như thế nào thì bà không biết. Do vậy không có căn cứ xác định bà Y đã đưa cho ông P 17.000.000 đồng để mua đất. Bên cạnh đó những người bán đất là ông T, bà H đều xác định khi thực hiện giao dịch chuyển nhượng đất thì ông P là người trực tiếp trả tiền. Ông T xác định ông chỉ chuyển nhượng đất cho cá nhân ông P, không chuyển nhượng cho ông P và bà Y ( BL 271, 222).
Quá trình giải quyết vụ án ông Tăng Kim Q xác nhận có chuyển nhượng đất cho ông P và ông P là người trực tiếp trả tiền ( B1 241). Tại phiên tòa ông Q xác định bán đất cho cả 2 vợ chồng ông P, nhưng nguồn tiền của ai thì ông không nắm được. Tuy nhiên ông không lý giải được lý do tại sao ông bán đất cho cả 2 vợ chồng ông P, nhưng khi đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông chỉ đề nghị cấp cho một mình ông P.
Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T thể hiện, các giao dịch chuyển nhượng đất của ông P với ông Q, bà N1; ông T bà H do các bên tự giao dịch, không thông qua Ủy ban nhân dân xã T, sau đó các bên mới làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất tại cơ quan có thẩm quyền. Năm 2020 ông P đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 54. Đối với thửa đất số 04 ông P cũng đã được xác nhận quyền sử dụng hợp pháp tại trang 3 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2011. Quá trình các bên thiết lập giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất đến khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều không có tranh chấp và cũng không có ai đề nghị hủy bỏ hoặc tuyên bố các giao dịch trên vô hiệu ( BL 182 – 185).
Như vậy căn cứ lời khai của các bên đương sự, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy nguồn gốc khối tài sản trên là do ông P mua từ thời điểm trước khi kết hôn với bà Y. Bà Y không chứng minh được việc đã góp tiền với ông P để mua đất, nên không có căn cứ xác định đây là tài sản chung vợ chồng.
Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét về thời gian bà Y chung sống cùng ông P trên đất ( từ năm 2004 – 2008), trên cơ sở đó xác định bà Y cũng có công sức trong việc quản lý, duy trì đất, từ đó trích 1 phần giá trị tài sản cho bà Y = 101.481.500 đồng, buộc ông P phải trả cho bà Y số tiền này là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Theo bà Y trình bày, hiện bà và các con không có chỗ ở nên nếu không có căn cứ xác định khối tài sản trên là tài sản chung vợ chồng, thì đề nghị trích công sức cho bà bằng đất để mẹ con bà có chỗ ở. Hội đồng xét xử thấy sau khi ly hôn bàYến không sinh sống tại địa phương mà làm ăn, sinh sống tại Bắc Ninh, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã trích công sức bằng tiền, không chấp nhận tính công sức bằng đất cho bà Y là có căn cứ.
Sau khi xét xử sơ thẩm bà Y có đơn đề nghị xem xét tính hợp pháp đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã cấp cho ông P. Hội đồng xét xử thấy, yêu cầu này của bà Y vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu và không nằm trong nội dung kháng cáo, nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp phúc thẩm.
Từ phân tích trên cho thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Y.
[3] Về án phí phúc thẩm: Bà Y kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Tăng Thị Y. Giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 37/2023/HNGĐ- ST ngày 19/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương như sau:
Căn cứ vào: Các Điều 147, 157, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 43, 44, 45 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tăng Thị Y.
- Xác định thửa đất số 54, tờ bản đồ số 31, được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/5/2020; thửa đất số 04, tờ bản đồ số 27, được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T, tỉnh Hải Dương xác nhận ngày 16/5/2011, có địa chỉ thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương là tài sản riêng của ông Nguyễn Xuân P. (Có sơ đồ kèm theo bản án).
- Áng trích một phần tài sản trong khối tài sản của ông Nguyễn Xuân P là thửa đất số 54, tờ bản đồ số 31; thửa đất số 04, tờ bản đồ số 27, địa chỉ tại thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, tính giá trị bằng tiền là 2.029.630.000đồng x 5%, thành tiền 101.481.500đồng.
Buộc ông Nguyễn Xuân P thanh toán trả công sức quản lý, duy trì cho bà Tăng Thị Y với tổng số tiền 101.481.500đồng.
- Về chi phí thẩm định: Buộc ông Nguyễn Xuân P phải thanh toán trả cho bà Tăng Thị Y số tiền 5.250.000đồng, chi phí thẩm định, định giá tài sản.
Sau khi án có hiệu lực, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, nếu người phải thi hành án chưa thi hành khoản trên thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí: Bà Tăng Thị Y phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền 21.000.000đ tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chia tài sản sau khi ly hôn, hoàn trả lại bà Y 20.700.000đ tiền tạm ứng án phí, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0003380 ngày 16/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Ông Nguyễn Xuân P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí phúc thẩm: Bà Tăng Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm, nhưng được đối trừ với số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm bà Y đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0000917 ngày 31/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà. Bà Y đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án Hôn nhân gia đình phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 30/2023/HNGĐ-PT ngày 29/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về chia tài sản chung sau ly hôn
- Số bản án: 30/2023/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Chia tài sản chung sau ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
