Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29 - 8 – 2024

V/v: ly hôn, T/c nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nghiêm Hoài Anh
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan và bà Phạm Thị Nga
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Ninh Viết Tùng
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa:
  • Ông Đinh Việt Thái– Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/4/2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QÐST-HNGĐ ngày 31/7/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Minh P. Sinh năm 1983.
  • - Bị đơn: Anh Lại Quốc C. Sinh năm 1982.
  • Cùng trú tại: số nhà A đường T, tổ G, phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình.
  • Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Trong đơn khởi kiện và tại lời khai trong suốt quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh P trình bày:

    Chị kết hôn với anh Lại Quốc C vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, TP H trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại tổ G, phường T. Trong thời gian chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi vã, không có hạnh phúc do anh C không tu chí làm ăn, chơi bời, nợ nần, phá tán tài sản gia đình, không chăm lo cho vợ con. Vợ chồng hiện sống ly thân nhau, không ai quan tâm tới ai. Tình cảm không còn, chị P xin ly hôn anh C.

    Về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên là Lại Minh T (sinh ngày 04/9/2019). Cháu T hiện đang sống cùng chị P. Khi ly hôn, chị P xin được nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con tự thỏa thuận.

    Về tài sản chung, nợ chung: không có.

  2. Tại bản tự khai, bị đơn anh Lại Quốc C trình bày:

    Anh và chị P kết hôn năm 2015 theo đúng quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, vợ chồng có nhiều xích mích trong sinh hoạt, bất đồng quan điểm, cuộc sống không hạnh phúc, vợ chồng thiếu sự quan tâm dành cho nhau. Tình cảm không còn, anh C đồng ý ly hôn với chị P. Khi ly hôn, anh C để chị P trực tiếp nuôi cháu T, việc cấp dưỡng hai bên tự thỏa thuận. Tài sản chung, nợ chung: không có. Anh C đề nghị được giải quyết vắng mặt tại các buổi làm việc, các phiên tòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị P được ly hôn anh C. Về con chung: giao cháu T cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con tự thỏa thuận. Tài sản chung, nợ chung: không có nên không đề cập giải quyết. Chị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng dân sự:

    Chị Nguyễn Thị Minh P khởi kiện vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình với anh Lại Quốc C. Anh C có hộ khẩu thường trú tại thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình.

    Chị P có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được. Anh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, việc Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh C là có căn cứ, đúng pháp luật.

  2. Về quan hệ hôn nhân:

    Chị Nguyễn Thị Minh P và anh Lại Quốc C kết hôn theo đúng quy định của Luật hôn nhân gia đình. Qúa trình chung sống, vợ chồng anh chị có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống xuất phát từ kinh tế. Anh C chơi bời dẫn tới nợ nần, phá tán tài sản gia đình, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi vã, không hòa hợp. Gia đình hai bên đã nhiều lần hòa giải nhưng không được. Vợ chồng hiện sống ly thân nhau, mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm tới ai. Lời trình bày của chị P, anh C tại Tòa án phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh C đã trầm trọng và không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị P và anh C đều đồng ý ly hôn nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị P.

  3. Về con chung, tài sản chung và nợ chung:

    Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lại Minh T (sinh ngày 04/9/2019). Cháu T hiện đang ở cùng chị P, còn nhỏ tuổi; chị P và anh C đều thống nhất cháu T sẽ ở với mẹ khi ly hôn và tự thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con. Do đó, khi ly hôn, giao cháu T cho chị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

    Về tài sản chung và nợ chung: đương sự trình bày vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

  4. Về án phí: Chị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Minh P được ly hôn anh Lại Quốc C.
  • - Về con chung: có 01 con chung tên là Lại Minh T (sinh ngày 04/9/2019). Khi ly hôn, giao cháu T cho chị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Việc cấp dưỡng nuôi con các bên tự thỏa thuận, chưa yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh C có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: đương sự chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về án phí: Chị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị P đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình theo biên lai số 0000310 ngày 01/4/2024, nay được đối trừ và không phải nộp thêm.
  • - Về quyền kháng cáo: Chị P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được cấp, tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TΡΗΒ;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - Chi cục THADS TPHB;
  • - Tòa án ND tỉnh Hòa Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh HB;
  • - UBND phường Thịnh Lang (số 26/2015);
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nghiêm Hoài Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger