|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA-TP HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST
Ngày 29 tháng 7 năm 2024
(V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình)
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiện.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vân, ông Đặng Viết Côi.
Thư ký phiên tòa: Bà Tưởng Thị Lan, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vũ, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2024/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2024/QĐHPT-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
*/ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Lệ T, sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT: thôn N, xã Đ, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
*/ Bị đơn: Anh Tạ Hoàng N, sinh năm 1988; Nơi ĐKHKTT: thôn G, xã Đ, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
* Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1955; Trú tại: thôn G, xã Đ, huyện Ứ, thành phố Hà Nội
(Các đương sự đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, chị Nguyễn Lệ T là nguyên đơn trình bày: chị và anh Tạ Hoàng N tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ năm 2012. Ngay sau khi kết hôn một thời gian ngắn vợ chồng chị đã thường xuyên phát sinh mâu thuẫn căng thẳng, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung, không thể chia sẻ với nhau được, mặc dù hai vợ chồng đã rất cố gắng tìm cách giải quyết nhưng tình trạng vẫn không thay đổi được, mâu thuẫn ngày càng trở nên căng thẳng hơn. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên anh chị đã sống ly thân mấy năm nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị nhận thấy chị không còn tình cảm gì với anh N nữa, chị cũng không muốn tiếp tục cuộc sống như này nên chị làm đơn xin được ly hôn với anh N.
Về con chung: Chị và anh N có 02 con chung: Tạ Hà P – sinh ngày 11/7/2012 và Tạ Diệp A – sinh ngày 10/12/2018. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con cho chị.
Về tài sản chung, công nợ chung: không có gì, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án.
Bị đơn anh Tạ Hoàng N: Không có ý kiến trình bày gì.
Tại biên bản lấy lời khai có trong hồ sơ vụ án, người làm chứng - bà Nguyễn Thị L là mẹ đẻ anh N trình bày: bà là mẹ đẻ anh Tạ Hoàng N, là mẹ chồng chị Nguyễn Lệ T. Vợ chồng anh N chị T mâu thuẫn như nào bà không biết vì vợ chồng anh N chị T ở riêng, không sống cùng ông bà. Hiện nay, anh N đang đi lao động xuất khẩu ở Nhật Bản nhưng bà cũng như gia đình không biết địa chỉ cụ thể của anh N. Anh N và chị T có 02 con chung như chị T khai là đúng, hiện đều đang ở với chị T. Nay chị T có đơn xin ly hôn anh N, quan điểm của bà: đó là việc của vợ chồng anh N chị T, bà không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Bà nhận trách nhiệm thông báo lại cho anh N biết về việc chị T xin ly hôn. Về các văn bản tố tụng của Tòa án bà nhận trách nhiệm nhận thay và thông báo lại cho anh N biết, đồng thời giao lại cho anh N khi anh N trở về nhà. Bà xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án.
Tại biên bản xác minh tại UBND xã Đ, Công an xã Đ và Cục Q có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Lệ T, sinh năm 1987 và anh Tạ Hoàng N, sinh năm 1988, tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ ngày 02/01/2012. Sau khi kết hôn, chị T và anh N đều đi làm ở nội thành Hà Nội nên về cuộc sống gia đình, mâu thuẫn vợ chồng cụ thể như nào chính quyền địa phương không nắm được, anh N hiện đang làm việc ở Nhật Bản nhưng chính quyền địa phương không biết địa chỉ cụ thể bên Nhật Bản của anh N là như nào. Chị T và anh N có 02 con chung: Tạ Hà P, sinh ngày 11/7/2012 và Tạ Diệp A, sinh ngày 10/12/2018. Nay chị T có đơn xin ly hôn anh N, quan điểm chính quyền địa phương: đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Tại phiên tòa, các đương sự đều vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, các đương sự được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định nhưng không hòa giải được vì lý do bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị T được ly hôn với anh N; giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; anh N không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị T cho đến khi có sự thay đổi mới hoặc có đề nghị khác; chị T nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đợc thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của các đơng sự, H đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Nguyễn Lệ T làm đơn ly hôn và đã đóng dự phí ly hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa tiến hành thụ lý, giải quyết theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự là đúng thẩm quyền.
Về quan hệ hôn nhân: chị C Nguyễn Lệ T và anh Tạ Hoàng N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ ngày 02/01/2012 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị T trình bày là do bất đồng quan điểm, không thể tìm được tiếng nói chung, vì mâu thuẫn căng thẳng trầm trọng nên chị T và anh N đã sống ly thân mấy năm nay, không ai quan tâm đến ai. Thực tế anh N cũng đi xuát khẩu lao động ở Nhật Bản mấy năm nay. Chị T cương quyết xin được ly hôn với anh N; anh N không về Tòa án làm việc do đang lao động ở Nhật Bản.
Tòa án đã triệu tập anh N đến Tòa để hòa giải cũng như tham gia phiên tòa nhưng thông qua mẹ đẻ anh N có quan điểm vì anh N đang lao động ở Nhật Bản nên anh không về tòa án làm việc được, chị T, bà L đều xin vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T và anh N là căng thẳng, có thời gian sống ly thân dài, hôn nhân giữa hai vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xử chấp nhận đơn ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn với anh N là phù hợp với quy định của khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị T và anh N có 02 con chung là Tạ Hà P – sinh ngày 11/7/2012 và Tạ Diệp A – sinh ngày 10/12/2018. Hiện tại, cả hai cháu đang ở với chị T. Chị T có nguyện vọng sau khi ly hôn được nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con cho chị. Hiện nay anh N cũng đang lao động ở Nhật Bản, không rõ thời điểm trở về của anh N là khi nào. Do đó, để đảm bảo môi trường sống tốt nhất cho các cháu nhỏ, theo nguyện vọng của đương sự và thực tiễn cuộc sống, HĐXX giao cả hai con chung cho chị Nguyễn Lệ T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh N cho đến khi có thay đổi mới hoặc có đề nghị khác là phù hợp với quy định pháp luật.
Về tài sản và công nợ chung: Chị T không yêu cầu đề nghị Tòa giải quyết; anh N không đến Tòa án trình bày quan điểm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết trong bản án này.
Về án phí và quyền kháng cáo: Chị T phải nộp án phí; nguyên đơn và bị đơn đều có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự (năm 2015) và căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2014); khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự (năm 2015); Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Về hôn nhân: Chị Chị Nguyễn Lệ T được ly hôn anh Tạ Hoàng N.
Về con chung: Chị Chị Nguyễn Lệ T và anh Tạ Hoàng N có 02 con chung là: Tạ Hà P – sinh ngày 11/7/2012 và Tạ Diệp A – sinh ngày 10/12/2018. Sau ly hôn, giao cả hai con chung cho chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh N cho đến khi có yêu cầu hoặc có thay đổi khác. Sau ly hôn, anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
“Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dỡng, giáo dục con thì ngời trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của ngời đó.Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con".
Về án phí: Chị Chị Nguyễn Lệ T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0011702 ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn đều có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã (phường) nơi cư trú đối với người vắng mặt./
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Thiện |
Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
