Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HNGĐ - PT

Ngày: 28 - 11-2023

V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Lâm

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Tân

Ông Mai Nam Tiến

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Lữ Thị Phương Q – Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2023/TLPT-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc: “Ly hôn”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2023/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 31/2023/QĐ-PT ngày 07 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Ông Vũ Minh D, sinh năm 1938.

Địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Mai Thùy L - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1946.

Địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 04/7/2023, bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Vũ Minh D trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị V chung sống với nhau từ năm 1967, ông bà không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương. Ông bà chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn với mức độ tăng dần. Nguyên nhân là do tính cách và quan điểm sống giữa hai ông bà không phù hợp, bà V luôn có thái độ xem thường gia đình nhà chồng. Năm 2016, ông vào Nam Định sống ly thân, sau một thời gian nằm hồi ức lại quá khứ, nhất là đối với bố đẻ của ông, đến đầu năm 2019 ông quyết định gửi đơn xin ly hôn bà V.

Nay ông thấy mâu thuẫn giữa ông với bà V đã nghiêm trọng, ông bà không tìm được tiếng nói chung, cứ gặp nhau là không những cãi nhau mà còn có những hành vi thiếu kiềm chế; tình cảm giữa ông với bà V đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà V.

Về con chung: Ông và bà V có với nhau 06 người con chung: Chị Vũ Thị Thanh V1, sinh năm 1968; anh Vũ Minh L1, sinh năm 1970; anh Vũ Văn B, sinh năm 1972; anh Vũ Văn T, sinh năm 1974; chị Vũ Thị H, sinh năm 1981; anh Vũ Trung T1, sinh năm 1983. Tất cả đều trưởng thành, có công ăn việc làm ổn định, phát triển, thành đạt và đều đã lập gia đình riêng; không có người con nào của ông bà bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình nên ông không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại đơn kiến nghị và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị V trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Vũ Minh D chung sống như vợ chồng từ năm 1967, nhưng ông bà không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ông bà có với nhau 06 người con chung. Suốt những năm tháng còn trẻ, kinh tế khó khăn, đồng lương và thu nhập thấp, ông bà đã cùng nhau nỗ lực làm việc để nuôi các con ăn học, chăm lo cho các con khôn lớn, trưởng thành, đến nay các con của ông bà đều thành đạt. Quá trình chung sống, ông bà luôn sống mẫu mực, không ai có quan hệ tình cảm ngoài vợ, ngoài chồng; không ai có con riêng, tài sản riêng; không có mâu thuẫn xung đột gì.

Nay ông bà đều đã cao tuổi, sức khoẻ yếu, không đủ khả năng tự chăm sóc bản thân và chăm sóc lẫn nhau nên phải dựa vào sự phụng dưỡng của con cháu. Bản thân bà bị huyết áp cao và một số bệnh tuổi già khác nên các con phải thường xuyên đưa đi nơi khác để chăm sóc và điều trị, sau đó lại trở về nhà; ông D cũng thường xuyên phải đi bệnh viện trong tình trạng phải nhập viện cấp cứu vì các bệnh đường hô hấp.

Việc ông D yêu cầu ly hôn với bà là không có căn cứ, không có lý do và mục đích chính đáng; không những ảnh hưởng xấu đến tâm lý, sức khoẻ, tinh thần và thể chất của bản thân mà còn ảnh hưởng rất lớn, làm tổn thương cả tình cảm và danh dự của con cháu. Vì vậy, bà không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Bà thống nhất với ông D về số con chung, cũng như tên tuổi của những người con của ông bà. Hiện nay, các con của ông bà đều đã trưởng thành, có công ăn việc làm ổn định và đều đã lập gia đình riêng nên bà không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung:Do bà không đồng ý ly hôn với ông D nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Bản án số 22/2023/HNGĐ-ST ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung đã quyết định:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 51của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Vũ Minh D với bà Nguyễn Thị V.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

* Ngày 30/8/2023, nguyên đơn ông Vũ Minh D có đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm và giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị V. Với lý do ông cho rằng tình cảm đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:

Việc ông D yêu cầu được ly hôn với bà V với lý do ông bà không còn tình cảm, phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, gặp nhau là chửi, đánh nhau, mặc dù được gia đình, Tòa án hòa giải để ông bà hàn gắn với nhau. Bà V không đồng ý ly hôn nhưng ông D kiên quyết yêu cầu tòa án giải quyết cho ly hôn. Điều này cho thấy cuộc sống gia đình của ông bà không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng, việc yêu cầu ly hôn là nguyện vọng cũng làquyền của ông. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 51,56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Vũ Minh D, xử cho ông D được ly hôn với bà Nguyễn Thị V. Chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Minh D đối với bản án số 22/2023/HNGĐ-ST ngày 30/08/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung.

Về án phí: Ông D là người cao tuổi, người có công với cách mạng nên đề nghị miễn án phí phúc thẩm cho ông.

* Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án cấp phúc thẩm đã tuân theo quy định của BLTTDS. Đề nghị HĐXX căn cứ Khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Minh D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của các đương sự và ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng.

Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Vũ Minh D làm theo đúng trình tự, thời hạn quy định tại các Điều 272, 273, 278 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị đơn:

Về hôn nhân: Ông Vũ Minh D yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị V với lý do ông cho rằng tình cảm đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nhưng ông không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho việc mâu thuẫn của vợ chồng đến mức trầm trọng. Mặt khác, qua lời trình bày và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện ông bà vẫn sống chung cùng một nhà, mọi sinh hoạt không có gì thể hiện việc ông bà có mâu thuẫn; ông D, bà V vẫn quan tâm, có trách nhiệm với nhau, nhưng không thường xuyên chăm sóc nhau được là do điều kiện khách quan, cả hai ông bà đến nay đều đã cao tuổi, lại thường xuyên ốm đau, bệnh tật; theo kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (nơi ông D, bà V cư trú): Quá trình sinh sống tại địa phương, vợ chồng ông D, bà V luôn sống mẫu mực, quan hệ với quần chúng nhân dân địa phương rất tốt, chưa bao giờ xảy ra mâu thuẫn, xung đột gì trầm trọng đến mức chính quyền, đoàn thể của thôn, xã phải can thiệp giải quyết. Về việc ông D trình bày giữa ông và bà V có phát sinh mâu thuẫn thì thôn, xã không rõ, vì ông bà chưa đề nghị tiến hành hòa giải mâu thuẫn vợ chồng một lần nào. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa ông D và bà V chưa lâm vào trầm trọng đến mức đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Vũ Minh D là có cơ sở.

Vì vậy ông D kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giải quyết cho ông được ly hôn với bà V là không có căn cứ để chấp nhận.

Từ phân tích trên không chấp nhận nhận kháng cáo của ông D, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

[2]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3].Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của ông D không được chấp nhận, nhưng do ông D là người cao tuổi nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí phúc thẩm cho ông D.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình. Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Toà án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Minh D. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 22/2020/HNGĐ-ST ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

    Về hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Vũ Minh D với bà Nguyễn Thị V.

  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Vũ Minh D.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND huyện Hà Trung;
  • - Chi cục THADS huyện H;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Lâm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Lâm

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Tân

Ông Mai Nam Tiến

Vào hồi giờ phút ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành nghị án đối với vụ án dân sự thụ lý số 29/2023/TLPT-HNGĐ ngày 09/10/2023 về việc “Ly hôn”, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Ông Vũ Minh Dưỡng, sinh năm 1938.

Địa chỉ: Thôn Mỹ Quan, xã Hà Vinh, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Mai Thuỳ Linh - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Vỡi, sinh năm 1946.

Địa chỉ: Thôn Mỹ Quan, xã Hà Vinh, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

3. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Vũ Minh Dưỡng.

HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình. Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Toà án.

Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3.

2. Không chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Minh Dưỡng. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 22/2020/HNGĐ-ST ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

Về hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Vũ Minh Dưỡng với bà Nguyễn Thị Vỡi.

Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3.

3 . Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Vũ Minh Dưỡng.

Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3.

CÁC THẨM PHÁN

Mai Nam Tiến

Lê Thị Tân

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2023/HNGĐ - PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn

  • Số bản án: 30/2023/HNGĐ - PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông D xin ly hôn với bà V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger