Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST

Ngày 28-6-2024

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Mai

Bà Hà Thị Nga

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 36/2024/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 533/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Hồng N; nơi cư trú: Số C A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân M; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số D T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an thành phố H; vắng mặt và có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 01 tháng 3 năm 2024 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Hồng N trình bày:

Chị và anh Nguyễn Xuân M xây dựng gia đình với nhau từ năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 26/3/2013. Đến nay vợ chồng có hai con chung.

Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2020. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách và quan điểm sống giữa hai bên không còn phù hợp với nhau. Bên cạnh đó là áp lực kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn dẫn đến cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, ngột ngạt. Đến này 29/02/2024, anh M bị công an quận N về tội có liên quan đến ma túy. Hiện anh M đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an thành phố H. Nay chị N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Nguyễn Xuân M.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Minh T, sinh ngày 25/5/2013 và Nguyễn Thảo L, sinh ngày 03/8/2017. Chị N xin được trực tiếp nuôi cả hai con đến khi các con thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai đối với anh Nguyễn Xuân M tại trại tạm giam công an thành phố H, anh M trình bày: Anh và chị Trần Hồng N xây dựng gia đình với nhau từ năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 26/3/2013. Đến nay vợ chồng có hai con chung. Quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, đến tháng 2/2024 anh M bị công an quận N bắt về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Nay anh đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an thành phố H. Nay chị N xin ly hôn anh M đồng ý, đề nghị Toà án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Minh T, sinh ngày 25/5/2013 và Nguyễn Thảo L, sinh ngày 03/8/2017. Anh đồng ý giao cả hai con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con anh xin tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện tại anh M đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an thành phố H, anh đã trình bày quan điểm, anh đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt anh.

Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ với đại diện chính quyền địa phương nơi chị N anh M chung sống và đại diện gia đình được biết: Anh M chị N chung sống tại địa phương đến tháng 2/2024 anh M bị công an quận N về tội Mua bán trái phép chất ma túy, hiện anh M bị tạm giam tại trại tạm giam công an thành phố H. Chị N có đơn xin ly hôn anh M, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Chị N và anh M kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vì vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Trần Hồng N ly hôn anh Nguyễn Xuân M; về con chung: Chị N anh M có hai con chung là Nguyễn Minh T, sinh ngày 25/5/2013 và Nguyễn Thảo L, sinh ngày 03/8/2017; đề nghị HĐXX giao cả hai con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, không xét về vấn đề cấp dưỡng nuôi con vì các bên không có yêu cầu; về tài sản chung: Các bên đương sự không có yêu cầu chia tài sản chung nên đề nghị HĐXX không xem xét; về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

  1. Đây là vụ án tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn là anh Nguyễn Xuân M có nơi cư trú cuối cùng trước khi bị bắt tại số D T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
  2. Bị đơn anh Nguyễn Xuân M hiện đang bị tạm giam không thể có mặt, anh M đã có quan điểm và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, do vậy HĐXX căn cứ vào quy định tại điểm khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Xuân M.

- Về nội dung:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Hồng N và anh Nguyễn Xuân M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 26/3/2013, đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.
  2. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do tính cách, quan điểm sống giữa hai vợ chồng không còn phù hợp nhau. Tháng 2/2024 anh M bị Công an quận N bắt về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Hiện anh đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an thành phố H. Cả chị N và anh M cùng xác định mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, cùng đề nghị Toà án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị N và anh M yêu cầu được ly hôn là phù hợp, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
  3. Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Minh T, sinh ngày 25/5/2013 và Nguyễn Thảo L, sinh ngày 03/8/2017. Hiện tại anh M đang bị tạm giam, không có khả năng nuôi con, cả anh M và chị N cùng thống nhất đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy việc chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung là phù hợp với nguyện vọng hai bên, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế, phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
  4. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N và anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra vấn đề giải quyết.
  5. Về tài sản chung: Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về án phí:

  1. Chị Trần Hồng N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Hồng N và anh Nguyễn Xuân M.
  2. Về con chung: Giao cả 02 con chung là Nguyễn Minh T, sinh ngày 25/5/2013 và Nguyễn Thảo L, sinh ngày 03/8/2017 cho chị Trần Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Trần Hồng N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Số tiền này chị N đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005802 ngày 27 tháng 3 năm 2024.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - UBND p. Trại Cau, q. Lê Chân, tp. Hải Phòng (ĐKKH ngày 26/3/2013);
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ án ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger