TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày: 28/5/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lâm Thị Thu.
- Ông Phan Văn Tao.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chí Đông - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Đào Minh Nguyên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2024/HSST ngày 06/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Kou Nam; giới tính: Nam; sinh năm 1966, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: Số B, ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Số B, ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lượm ve chai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Kou M - đã chết và bà Nguyễn Thị M1 - đã chết; anh, chị, em ruột: 03 người, đều không rõ năm sinh; vợ Phan Thị Nguyệt P - đã chết; con: Có 01 người con, sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 08/8/1989, bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội “trộm cắp tài sản của công dân”, theo Bản án số 95/HS-ST; ngày 18/10/1990, bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản của công dân”. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù của bản án số 95/HS-ST ngày 08/8/1989, buộc bị cáo Kou N phải chấp hình hình phạt chung là 24 tháng tù, theo bản án số 164/HS-ST. Do bị cáo Kou N kháng cáo, nên ngày 08/4/1991 Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm và tuyên y án sơ thẩm, theo bản án số 76/HSPT, Kou Nam chấp hành xong bản án; ngày 07/12/1995, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “trộm cắp tài sản của công dân”, theo bản án số 1749/HSST. Do bị cáo Kou N kháng cáo, nên ngày 22/5/1996 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm và tuyên y án sơ thẩm, theo bản án số 577/HSPT, Kou Nam chấp hành xong bản án; ngày 07/10/1998, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 42 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản của công dân”, theo bản án số 1978/HS-ST. Do bị cáo Kou N kháng cáo, nên ngày 10/02/1999 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm và tuyên y án sơ thẩm, theo Bản án số 252/HSPT, Kou Nam chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/11/2001. Ngày 07/5/1999 Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định ủy thác thi hành án dân sự số 1184/UTTHA cho Chi Cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục thi hành đối với khoản: Bị can Kou Nam phải nộp 50.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 50.000đ án phí hình sự phúc thẩm. Công văn số: 1160/CCTHADS ngày 18/3/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, xác định: Chi cục chưa thụ lý hồ sơ Kou Nam theo bản án số 252HSPT ngày 10/02/1999 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và Bản án số 1978/HSST ngày 07/10/1998 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh). Đến nay, đã hết thời hiệu thi hành bản án theo quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị can Kou N bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/12/2023 - Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
Bà Ngô Thị Bích L, sinh năm: 1990.
Địa chỉ: Tổ F, khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Trần Đăng D, sinh năm: 1993.
Địa chỉ: B, ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 20 phút ngày 26/11/2023, Kou N điều khiển xe môtô biển số 59F1-569.06 đến bãi đất trống, đường số I, Khu dân cư P, ấp C, xã P, huyện N để tìm, lượm ve chai, phế liệu. Đến khoảng 11 giờ 34 phút cùng ngày, N đến cạnh nhà không số, đường số A, Khu dân cư P, tổ A, ấp C, xã P, huyện N của chị Ngô Thị Bích L. N thấy phía trước cửa chính có 01 bình ắc quy mà không có ai ở nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp bình ắc quy trên bán lấy tiền tiêu xài. N đến vị trí hàng rào kẽm gai bước vào sân nhà để lấy bình ắc quy thì bị chập điện do bình ắc quy đang sạc điện nên không lấy được. Tiếp đó, N dùng tay giật mạnh cửa kính ra vào nhà 03 lần thì mở được cửa và đi vào phía sau nhà trộm cắp được: 01 máy hàn, màu đỏ, không rõ nhãn hiệu; 01 thiết bị chỉnh âm thanh (mixer), nhãn hiệu Presonus, màu trắng bạc và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone SE, màu trắng mang về nhà của N cất giấu. Đến khoảng 11 giờ ngày 27/11/2023, N điều khiển xe môtô biển số 59F1-569.06 chở số tài sản trộm cắp được đến khu vực chợ N1, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho 03 người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) được 2.100.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Chị Ngô Thị Bích L khi về nhà thấy mất tài sản có xem lại camera thì nhìn thấy hình ảnh Kou Nam đột nhập vào nhà nhưng chị L không trình báo. Đến khoảng 12 giờ ngày 17/12/2023 chị L nhìn thấy Kou N đi ngoài đường có đặc điểm giống như hình ảnh camera ghi nhận người đột nhập vào nhà chị L trộm cắp tài sản nên đến trụ sở Công an xã P, huyện N trình báo. Ngày 20/12/2023 Kou Nam bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú về tội “trộm cắp tài sản”.
Theo kết luận định giá tài sản số 56/KL-HĐĐGTTHS ngày 19/12/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện N kết luận:
- - 01 máy hàn màu đỏ, không rõ nhãn hiệu, tình trạng đã qua sử dụng, mua từ tháng 06/2023, được định giá là 800.000đ;
- - 01 thiết bị chỉnh âm thanh (mixer), nhãn hiệu Presonus, màu trắng bạc, tình trạng đã qua sử dụng, mua từ năm 2020, được định giá là 2.596.000đ;
- - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone SE, màu trắng, tình trạng đã qua sử dụng, được mua năm 2018, được định giá là 597.000đ.
Hội đồng thống nhất định giá tổng tài sản trên là 3.993.000đ.
Vật chứng vụ án:
- - 01 nón bảo hiểm, màu đen; 01 áo thun dài may, màu xanh và 01 quần dài màu xanh (nón Kou Nam đội và quần áo Kou Nam mặc khi đi trộm cắp tài sản của chị Ngô Thị Bích L). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã chuyển những vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè để chờ xét xử.
- - 01 xe môtô biển số 59F1-569.05 do anh Trần Đăng D, là con rể của Kou N đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ngày 26/11/2023, Kou N lấy xe môtô biển số 59F1-569.05 đi lượm ve chai và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, anh D hoàn toàn không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trao trả lại xe môtô biển số 59F1-569.05 cho anh Trần Đăng D.
- - Về dân sự: Kou Nam đã tự nguyện bồi thường cho bị hại là chị Ngô Thị Bích L 11.000.000đ (Mười một triệu đồng). Sau khi nhận đủ 11.000.000đ, chị L đã làm đơn bãi nại cho Kou N và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Bản cáo trạng số: 23/CT-VKS-NB ngày 06/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè đã truy tố bị cáo Kou N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Kou N từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- - Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) nón bảo hiểm, màu đen; 01(Một) áo thun dài may, màu xanh và 01 (Một) quần dài màu xanh là công cụ mà bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.
01 xe môtô biển số 59F1-569.05 do anh Trần Đăng D đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Vào ngày 26/11/2023, Kou N chạy xe môtô biển số 59F1-569.05 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì anh D hoàn toàn không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trao trả lại xe môtô biển số 59F1-569.05 cho anh Trần Đăng D là chủ sở hữu hợp pháp là có cơ sở nên không đề nghị xem xét;
- Về dân sự: Bị hại đã làm đơn bãi nại cho Kou N và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề nghị xem xét.
Bị cáo khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị hại phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào khoảng 11 giờ 37 phút ngày 26/11/2023, tại nhà không số, đường số A, Khu dân cư P, tổ A, ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, K đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, gồm: 01 máy hàn, màu đỏ, không rõ nhãn hiệu; 01 thiết bị chỉnh âm thanh (mixer), nhãn hiệu Presonus, màu trắng bạc và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone SE, màu trắng, theo định giá tổng tài sản là 3.993.000đ của chị Ngô Thị Bích L. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè truy tố là đúng người, đúng tội.
Bị cáo phạm tội là do lỗi cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật và gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, để có tiền tiêu xài cá nhân đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Bên cạnh đó, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bốn lần bị Tòa án kết tội về tội “trộm cắp tài sản của công dân”. Do đó, cần phải được xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, K có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại chị Ngô Thị Bích L. Bị hại đã nhận tiền bồi thường và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có nguồn thu nhập ổn định, do đó Hội đồng xét xử xem xét không buộc bị cáo phải chịu phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Đối với 03 người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch đã mua tài sản mà bị cáo trộm cắp tại chợ N1, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - 01 (một) nón bảo hiểm, màu đỏ đen, tình trạng đã qua sử dụng; 01(một) áo thun dài tay, màu xanh, tình trạng đã qua sử dụng và 01 (một) quần dài, màu xanh, tình trạng đã qua sử dụng là các tài sản của bị cáo, bị cáo sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 xe môtô biến số 59F1-569.05 do anh Trần Đăng D đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ngày 26/11/2023, Kou N chạy xe môtô biển số 59F1-569.05 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì anh D hoàn toàn không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trao trả lại chiếc xe môtô biển số 59F1-569.05 cho anh Trần Đăng D là chủ sở hữu hợp pháp là có cơ sở.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường của bị cáo, đồng thời có đơn bãi nại cho bị cáo và không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo Kou Nam phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Kou N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Kou Nam 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án phạt tù.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) nón bảo hiểm, màu đỏ đen, có dòng chữ “LOSHIP”, tình trạng đã qua sử dụng; 01(một) áo thun dài tay, màu xanh, tình trạng đã qua sử dụng và 01 (một) quần dài, màu xanh, tình trạng đã qua sử dụng.
(Theo phiếu nhập kho số 2024-NK041 ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị D1 |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRỘM CẮP TÀI SẢN
