Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-ST

Ngày: 27-02-2025.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Trung Chính
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:

Ông Phan Trần Vĩnh Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Văn Đ; sinh ngày: 22/9/1999 tại Cà M; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn H và bà: Đinh Thị L; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2024 tại Nhà tạm giữ Công an Q1.

(Bị cáo có mặt).

- Bị hại: Ngân hàng TMCP X

Trụ sở chính: Tầng H, Tòa nhà V, số G L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền:

Bà Đặng Huỳnh Nhật K, sinh năm: 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: 5 đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Lưu Khoa T, sinh năm: 1988 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Số 1, đường số C, phường T, Thành phố T.

  2. Ông Lê Đình H1, sinh năm: 1988 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Đường A tổ B, Khu phố B, phường H, Thành phố T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/11/2023, bị cáo Phạm Văn Đ được Công ty Cổ phần D phân công trực chốt bảo vệ tại phòng G - Ngân hàng E - Chi nhánh H3, số G L, Phường A, Quận A (viết tắt Ngân hàng). Nhiệm vụ cụ thể của Đ: Tuần tra, canh gác, kiểm soát tài sản ra vào ngân hàng, phát hiện ngăn chặn trộm cắp, theo Hợp đồng 010304/2024/HDLD/BVSV-EIB.

Trong quá trình làm việc, bị cáo Đ thấy tại kho chứa đồ của Ngân hàng có một số tài sản, tài liệu đã cũ của Ngân hàng ít có người kiểm tra nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo lên các trang mạng xã hội Facebook tìm người thanh lý đồ cũ, chụp hình và gửi cho người cần mua để thỏa thuận giá mua bán. Sau khi đã thống nhất được giá mua bán thì hẹn những người mua đến vào ban đêm để bán các tài sản, tài liệu bên trong kho chứa hàng của Ngân hàng. Từ thời gian tháng 2/2024 đến tháng 5/2024, bị cáo Phạm Văn Đ đã nhiều lần lấy bán các tài sản của Ngân hàng. Đến ngày 18/6/2024, bà Đặng Huỳnh Nhật K, là Giám đốc Ngân hàng, qua kiểm kê tài sản và trích xuất Camera Ngân hàng, phát hiện việc Phạm Văn Đ chiếm đoạt tài sản nên đến Công an P1, Quận A trình báo sự việc.

Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã khởi tố và ra lệnh bắt tạm giam đối với bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, bị cáo Phạm Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Ngày 05/02/2024, bị cáo Đ lên mạng xã hội Facebook tìm người mua các tài sản và đã liên hệ với 01 tài khoản tên “Thu Mua May Tinh" qua messenger để trao đổi việc bán 01 máy in HP LJ1022 VNRT774035; 01 máy in HP 2055D VNC3S01782; 01 máy in Canon 2900 L11121E và 06 màn hình vi tính,07 CPU (không nhớ rõ loại) đã qua sử dụng. Khoảng 21 giờ cùng ngày, bị cáo Đ mang tài sản trên đến quận G để bán (bị cáo không nhớ rõ địa chỉ cụ thể) với giá 5.000.000 đồng người mua trả tiền mặt.

Ngày 22/3/2024, bị cáo Đ tìm được Lưu Khoa T đăng tin nhận mua máy lạnh cũ để lại số điện thoại 0965.937.xxx, bị cáo kết bạn zalo tài khoản “Điện tử điện lạnh” và nhắn tin trao đổi giới thiệu là quản lý của Ngân hàng, muốn bán thanh lý 01 bộ máy lạnh Daikin, 01 bộ máy lạnh Panasonic của ngân hàng. Đến tối cùng ngày anh T đến ngân hàng E phòng giao dịch K để xem hàng và mua các tài sản nêu trên với giá 2.800.000 đồng, anh T đã chuyển khoản thanh toán tiền qua tài khoản cá nhân của bị cáo Đ số tài khoản 0908706744 ngân hàng E.

Ngày 30/3/2024, bị cáo Đ tìm người mua các tài sản trên mạng xã hội Facebook, thấy có người đăng tin nhận thu mua máy tính cũ. Bị cáo Đ trao đổi xong và kết bạn zalo tài khoản “Đại Minh T1”, người mua gửi định vị để Đ mang đến nơi để kiểm tra (Đ không nhớ địa chỉ). Khoảng 13 giờ cùng ngày, Đ mang 05 màn hình và 06 CPU còn lại đến địa chỉ trên để kiểm tra, hai bên thống nhất mua, bán với giá 500.000 đồng, người mua giao tiền mặt cho Đ.

Đầu tháng 4/2024, Đ quan sát từ trước và thấy một cái máy lọc không khí được để ở trong kho lưu trữ tài liệu phía sau phòng tín dụng, máy nằm bên trong thùng giấy, Đ có mở thùng máy lọc không khí trên ra xem thì biết tình trạng của máy còn mới, chưa qua sử dụng. Đến ngày 20/4/2024 do hết tiền tiêu xài, Đ đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếm máy lọc không khí. Đ vào kho lấy chiếc máy ra khỏi thùng chụp hình lại. Sau đó, Đ liên hệ với tài khoản “Điện tử - Điện lạnh” đã nhắn tin trước đó để nhắn tin, gửi hình ảnh trao đổi bán máy nêu trên với giá 2.000.000 đồng. Khoảng 15 giờ cùng ngày, có người điện thoại đến và hẹn Đ mang máy đi giao tại 01 quán cà phê ở quận T (bị cáo Đ không nhớ rõ địa chỉ và số điện thoại người mua). Khi đến nơi Đ gặp một người này tự nhận là đại lý bên hãng C và kiểm tra máy. Khi thấy máy có chữ E, người này đã trả giá 1.700.000 đồng, Đ đồng ý bán. Người thanh niên này sử dụng tài khoản ngân hàng tên PHAN TIEN QUOC chuyển khoản vào số tài khoản 0908706744 ngân hàng E của Đ.

Ngày 27/4/2024, Đ tiếp tục nhắn tin cho T hỏi thanh lý 01 bộ M đến tối cùng ngày anh T đến Ngân hàng E để xem hàng và mua máy lạnh trên với giá 2.200.000 đồng, cùng phương thức thanh toán nêu trên.

Ngày 08/5/2024, Đ lên mạng xã hội Facebook tìm người mua khoảng 100 bao tải chứng từ, tài liệu của Ngân hàng, Đ liên lạc với Lê Đình H1 là chủ tài khoản Facebook tên “Phế liệu Đại Thành P” và có để lại số điện thoại. Sau đó H1 kết bạn zalo với Đ và trao đổi thống nhất 21 giờ 30 cùng ngày anh H2 qua mua tài sản trên với giá 4.000.000 đồng. Số giấy trên anh H1 sau khi mua đã cắt vụn và ép thành khối bán lại nên không thể thu hồi.

Không nhớ rõ ngày cụ thể tại ngân hàng, Đ đã bán 02 khung cửa nhôm dài 3 mét, rộng 1,1 mét với giá 1.000.000 đồng. Người mua bị cáo Đ tìm trên mạng (không rõ lai lịch, địa chỉ), khi mua trả tiền mặt.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 2643/KL-HĐĐGTS ngày 27/06/2024 định giá chiếc máy lộc không khí hiệu Coway AP-1008CH vào ngày 20/04/2024 có giá trị là 8.200.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã làm việc với người đại điện ngân hàng E là bà Đặng Huỳnh Nhật K – đại diện theo pháp luật của Ngân hàng, đề nghị cung cấp thông tin chi tiết và chứng minh nguồn gốc các tài sản bị chiếm đoạt để làm căn cứ định giá nhưng ngoài thông tin chi tiết của máy lọc không khí hiệu Coway AP-1008CH, Ngân hàng không cung cấp được thông tin nào khác. Do vậy, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận A không có căn cứ để định giá các tài sản trên.

Cơ quan điều tra xác minh làm rõ tài khoản tên Phan Tien Q, kết quả chưa nhận được trả lời xác minh.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Lê Đình H1, Lưu Khoa T khai, khai do bị cáo Đ nói các tài sản là tài sản ngân hàng T2 nên anh H1, anh T đã mua, không biết tài sản này do bị cáo phạm tội mà có.

Vật chứng, tài sản thu giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng hồng, dung lượng 256GB, số máy: NQ8Y2LL/A, số IMEI: 352978098124846, số seri: F17W60PZJCLT. Là tài sản cá nhân của bị cáo Đ dùng để liên hệ những người mua vật dụng mà bị cáo đã trộm cắp được.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

Đối với những tài sản mà bị cáo Phạm Văn Đ đã trộm cắp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 chưa thu hồi được. Cơ quan CSĐT Công an Q1 đã có công văn đăng báo tìm người biết sự việc và người thu mua các tài sản của ngân hàng E (chi nhánh H3, PGD K) bị chiếm đoạt nhưng chưa có người đến liên hệ.

Về phần dân sự: Đại diện của Ngân hàng E, chưa có yêu cầu bồi thường về tài sản liên quan đến vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 138/CT-VKSQ10 ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Bị cáo Phạm Văn Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

  • Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, bị hại và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Phạm Văn Đ từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, miễn phạt tiền bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng.
  • Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Phạm Văn Đ đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của bị hại trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi lấy trộm một máy lọc không khí hiệu Coway AP-1008CH trị giá 8.200.000 đồng. Do vậy, bị cáo Phạm Văn Đ bị truy tố và xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chưa có yêu cầu bồi thường liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử không có gì để xem xét. Nếu sau này bị hại có yêu cầu bồi thường thì sẽ được giải quyết trong vụ án dân sự khác.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng hồng, dung lượng 256GB, số máy: NQ8Y2LL/A, số IMEI: 352978098124846, số seri: F17W60PZJCLT. Xét thấy đây là tài sản bị cáo dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào khoản 1, Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024.

Miễn phạt tiền bổ sung bị cáo Phạm Văn Đ.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng hồng của bị cáo Phạm Văn Đ.

(Tình trạng vật chứng: Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/02/2025 giữa Công an Q1 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).

Buộc bị cáo Phạm Văn Đ chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • -Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • -TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM (1)
  • -VKSND Q.10; (2)
  • - Công an Q.10; (2)
  • - Chi cục THADS Q.10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (4)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Đạt phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger