Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26-4-2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia

đình ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Đợi, ông Nguyễn Thanh Sơn.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 349/2023/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 09/2024/TB-TA ngày ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu C, sinh năm 1988; nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; chổ ở hiện nay: hẻm G, Nguyễn Mậu T, khóm H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

- Bị đơn: Ông Trần Trung H, sinh năm 1989; nơi cư trú: tổ A, ấp V, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang.

Bà C, ông H vắng mặt tại phiên tòa (bà C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu C trình bày:

Về hôn nhân: Bà C và H tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn vào ngày 19 tháng 7 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Sau khi kết hôn, vợ chồng đi làm và sinh sống tại xã T, tỉnh Bình Dương. Đến năm 2017, ông H nghỉ việc, sau đó có đi học nghề sửa xe nhưng vẫn không tạo ra thu nhập phụ giúp gia đình. Khoảng năm 2020 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và mâu thuẫn kinh tế gia đình. Đến tháng 02/2023, H bỏ về nhà cha mẹ ruột tại xã V, thành phố C sinh sống cho đến nay. Tháng 05/2023, biết bà C khởi kiện ly hôn đến Toà án, H đến nhà cha mẹ ruột Cẩm tại ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương, đòi đập phá nhà, leo rào vào nhà cha mẹ tôi để kiếm chuyện. Tình trạng kéo dài, đến tháng 10/2023 bà C dẫn con chung đến nhà em họ tại khóm H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa sinh sống cho đến nay. Vợ chồng không còn liên lạc với nhau, hôn nhân không thể hàn gắn, tình cảm không còn nên bà Nguyễn Thị Thu C yêu cầu ly hôn với ông Trần Trung H.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Nguyễn Thị Thu C và ông Trần Trung H có 01 (một) con chung tên Trần Thị Ngọc Á, sinh ngày 30/5/2017. Bà C yêu cầu được nuôi dạy con chung cho đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho ông Trần Trung H (do người thân nhận), do ông H vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

  • - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.
  • - Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn vắng mặt nhiều lần không lý do, thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
  • - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Thu C được ly hôn với ông Trần Trung H; về con chung: bà C được nuôi dạy con chung tên Trần Thị Ngọc Á, sinh ngày 30/5/2017, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Từ các phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Thu C khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Trung H. Ông H có nơi cư trú trên địa bàn thành phố C, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu C vắng mặt và có yêu cầu vắng mặt, bị đơn ông Trần Trung H đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

* Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân:

Nguyễn Thị Thu C và ông Trần Trung H tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 51/2016 ngày 19/7/2016 nên là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Tòa án ghi nhận ý kiến bà Phạm Thị D (là mẹ ruột ông H), có nhận thay văn bản tố tụng của Tòa án và thông báo lại cho ông H biết việc bà C khởi kiện ly hôn với ông H; vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã không còn chung sống với nhau từ tháng 07 năm 2023 cho đến nay, gia đình khuyên bảo, hàn gắn tình cảm cho CH nhưng không thành, do đó H đồng ý ly hôn; về con chung: đồng ý giao con chung tên Trần Thị Ngọc Á, sinh ngày 30/5/2017 cho C nuôi dạy, H không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: không có. Do ông H bận đi làm nên không tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa.

Qua xác minh tại ấp V, xã V, thành phố C xác nhận ông Trần Trung H hiện đang sinh sống và làm việc tại địa phương.

Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.

Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, phải có nghĩa vụ sống chung với nhau nhưng bà C, ông H đã không còn sống chung với nhau từ tháng 07 năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy,

mâu thuẫn tình cảm giữa bà C và ông H là trầm trọng, vợ chồng đã sống xa cách, không quan tâm đến nhau trong cuộc sống, có kéo dài quan hệ hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C về việc ly hôn với ông H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Bà C, ông H có 01 (một) con chung tên Trần Thị Ngọc Á, sinh ngày 30/5/2017. Bà C yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Nhận thấy từ khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và không còn sống chung đến nay, cháu Á sống cùng với bà C, được bà C chăm sóc và nuôi dạy. Đồng thời, bà C có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Do đó, để đảm bảo môi trường sống ổn định cho con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà C1, giao cháu Trần Thị Ngọc Á, sinh ngày 30/5/2017 cho bà C tiếp tục nuôi dạy cho đến tuổi trưởng thành, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Nguyễn Thị Thu C cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Trần Trung H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: bà C khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Thu C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp. Ông Trần Trung H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điêm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu C.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu C được ly hôn với ông Trần Trung H.

[2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thu C được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Trần Thị Ngọc Á, sinh ngày 30/5/2017 cho đến tuổi trưởng thành. Ông Trần Trung H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Nguyễn Thị Thu C cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Trần Trung H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Nguyễn Thị Thu C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003610 ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc. Bà Nguyễn Thị Thu C đã nộp đủ án phí.

Ông Trần Trung H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[4] Giấy chứng nhận kết hôn số 51/2016 ngày 19/7/2016 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương không còn giá trị pháp lý.

[5] Về quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thu C và ông Trần Trung H vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP. Châu Đốc;
  • - Chi cục THADS TP Châu Đốc;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã, phường nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lâm Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger