Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DI LINH

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26-4-2024

V/v tranh chấp hôn nhân

và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Cường Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông K’Đào và ông Đào Duy Trâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Lương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông K’Dem – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 57/2024/TLST-HNGĐ ngày 05/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXX-TA ngày 26 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QĐST-DS ngày 08/4/2024 của Tòa án huyện D giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mỹ S; sinh năm 1987.

Địa chỉ: Số C H, tổ dân phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn: Anh Hà Văn N; sinh năm 1984.

Địa chỉ: Số F H, tổ dân phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Tại phiên Tòa chị S có mặt, anh N vắng mặt lần thứ hai không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, chị Lê Thị Mỹ S trình bày như sau:

Về hôn nhân, chị và anh Hà Văn N sống chung có đăng ký kết hôn ngày 09/02/2011 tại UBND thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi cưới nhau thì vợ chồng cùng sống chung với gia đình nhà bố mẹ chồng tại tổ dân phố D thị trấn D. Đến khoản 2018 vợ chồng mâu thuẫn do khác biệt về lối sống, thường hay cải nhau, anh N nhiều lần xúc phạm chị. Đỉnh điểm là cuối năm 2020 thì vợ chồng ly thân, chị

S thuê nhà ở riêng tại đường H ở cùng các con, anh N ở lại Số F H, tổ D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng cùng với bố mẹ ruột. Hiện nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Lê Thị Mỹ S xin được ly hôn với anh Hà Văn N. Về nuôi con chung, vợ chồng có 02 con chung tên Hà Kim P; sinh ngày 03/9/2011 và Hà Lê Thảo M; sinh ngày 12/6/2014. Từ khi vợ chồng ly thân thì chị S là người trực tiếp nuôi dưỡng các con chung cho đến nay. Khi ly hôn, chị S yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu anh Hà Văn N cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung không có, Tài sản riêng tự quản lý. Vợ chồng không có thỏa thuận gì về chế độ tài sản chung. Khi ly hôn không yêu cầu tòa án giải quyết về phần tài sản. Chứng cứ chứng minh là Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh của các con.

Bị đơn, anh Hà Văn N đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập và các thông báo, quyết định của tòa án, tuy nhiên không đến làm việc nên Tòa án không ghi được ý kiến trình bày của anh N. Do anh Hà Văn N không đến Tòa làm việc, chị Lê Thị Mỹ S có đơn không yêu cầu hòa giải vì vậy Tòa án đã lập biên bản không hòa giải được, tiến hành họp công khai chứng cứ và đã tống đạt thông báo kết quả họp công khai chứng cứ cho các đương sự theo quy định.

Tại phiên tòa chị Lê Thị Mỹ S trình bày:

Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu. Vào cuối năm 2023, chị đã làm đơn xin ly hôn, Tòa án đã thụ lý, anh N hứa sửa đổi và chị đã rút đơn. Tuy nhiên sau khi đoàn tụ, anh N vẫn không thay đổi. Trong cuộc sống hành ngày, anh N độc đoán, không tôn trọng vợ con. Tình cảm vợ chồng không còn gắn kết, mạnh ai người nấy sống, không quan tâm chia sẻ cho nhau. Về việc ly hôn, hai bên gia đình nội ngoại có biết và không có ý kiến vì đã nhiều lần hòa giải rồi, nay để hai vợ chồng tự quyết định. Chị S bán thuốc Tây, thu nhập hàng tháng khoảng 20.000.000đ, ngoài ra chị còn bán hàng online thu nhập thêm khoảng 5.000.000đ. Sức khỏe của chị bình thường, hiện nay chị không thai nghén gì cả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, nhận thấy Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Về nội dung tranh chấp. Đề nghị căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Các đương sự có nơi đăng ký thường trú tại huyện D, tỉnh Lâm Đồng, tranh chấp về ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Di Linh có thẩm quyền giải quyết là đúng quy định.

[2] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa có mặt chị Lê Thị Mỹ S có mặt, vắng mặt anh Hà Văn N lần thứ hai không lý do. Căn

cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.

[3] Nội dung tranh chấp.

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Mỹ S và anh Hà Văn N sống chung có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 09/02/2011. Sau khi cưới nhau cả hai ở chung với gia đình nhà bố mẹ chồng. Đến 2018 vợ chồng mâu thuẫn khác biệt về lối sống, anh N không chăm lo cuộc sống gia đình, vợ chồng thường hay cải nhau gay gắt. Một phần nguyên nhân mâu thuẫn là do khó khăn về kinh tế. Đầu năm 2020 thì vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương quý trọng, lo lắng cho cuộc sống chung. Cả hai cũng không có phương án và ý định trở về đoàn tụ. Khi Tòa án tổ chức hòa giải, anh N cũng không quan tâm, không đến làm việc, nội dung này cho thấy ý thức bỏ mặc, không mong muốn đoàn tụ của anh N. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần xem xét giải quyết cho chị Lê Thị Mỹ S và anh Hà Văn N được ly hôn là phù hợp.

[3.2] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Hà Kim P; sinh ngày 03/9/2011 và Hà Lê Thảo M; sinh ngày 12/6/2014. Từ khi vợ chồng ly thân thì chị S là người trực tiếp nuôi dưỡng các con chung cho đến nay. Xét điều kiện hoàn cảnh kinh tế của các bên và nguyện vọng của con chung. Để đảm bảo sự phát triển bình thường cho con trẻ, tránh sự xáo trộn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Khi Tòa án giải quyết ly hôn cần giao cả hai con chung cho chị Lê Thị Mỹ S trực tiếp nuôi dưỡng, anh Hà Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

[3.3] Về phần tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

[4] Về Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Lê Thị Mỹ S phải chịu là 300.000 đồng án phí xin ly hôn. Chị Lê Thị Mỹ S đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0005621 ngày 05/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

[5] Quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 4 Điều 147 điểm b khoản 2 Điều 227; 235 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Mỹ S và anh Hà Văn N được ly hôn.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Hà Kim P; sinh ngày 03/9/2011 và Hà Lê Thảo M; sinh ngày 12/6/2014 cho chị Lê Thị Mỹ S trực tiếp nuôi dưỡng, anh Hà Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con. Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo luật hôn nhân và gia đình.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về phần tài chung: Không đề cập giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Mỹ S phải chịu là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí xin ly hôn. Chị Lê Thị Mỹ S đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0005621 ngày 05/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị M1 có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Hà Văn N vắng mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Di Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Di Linh;
  • - UBND TT Di Linh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Bá Cường Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Mỹ S và anh Hà Văn N xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger