Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM MỸ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày 26-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hà Thế Nam

Các Hội thẩm nhân dân: bà Vũ Thị Thùy Dương

ông Trần Văn Thức

- Thư ký phiên tòa: bà Đoàn Thị Bích – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Diệp – Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân (TAND) huyện C, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 04/3/2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa sơ thẩm số 04/TB-TA ngày 15/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/HSST-QĐ ngày 12/4/2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Lê N (tên thường gọi là Ty R), sinh ngày: 06/02/1995; tại: Đồng Nai; số CCCD: [...]; nơi thường trú: số nhà A, tổ B, ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: không ổn định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn T, sinh năm: 1956 và bà Lê Thị Hồng H, sinh năm: 1968; gia đình có 04 anh, chị, em; bị cáo thứ ba; vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không.

Ngày 06/9/2023 đến Công an huyện N đầu thú về hành vi Mua bán trái phép vũ khí quân dụng và bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, Trại tạm giam Công an tỉnh Đ cho đến nay. (Có mặt)

2. Nguyễn Minh N1 (tên thường gọi là Nhật T1), sinh ngày: 16/11/1988; tại: Bà Rịa V; số CCCD: [...]; nơi thường trú và cư trú: số 304/21/10, H, khu phố V, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn T2, sinh năm: 1947 và bà Hồ Thị M, sinh năm: 1947; gia đình có 04 anh, chị, em; bị cáo thứ ba; vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: ngày 10/11/2005 bị TAND huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/5/2006 và đã được xóa án tích.

Ngày 08/11/2023 ra đầu thú về hành vi Cố ý gây thương tích và bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C cho đến nay. (Có mặt)

- Bị hại: anh Nguyễn Trung H1, sinh năm 1985, nơi cư trú: ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Trần Thanh P (Ú), sinh năm 2002, nơi cư trú: khu phố K, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
  2. Trần Thanh P1 (N2), sinh năm 1998, nơi cư trú: khu phố K, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. (Vắng mặt)
  3. Nguyễn Quốc T3, sinh năm 2001, nơi cư trú: ấp K, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. (Vắng mặt)
  4. Nguyễn Văn H2, sinh năm 2003, nơi cư trú: ấp K, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. (Vắng mặt)
  5. Nguyễn Phước K (K1), sinh năm 2004, nơi thường trú: thôn T, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; nơi cư trú: ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. (Vắng mặt)
  6. Thiềm Hồng S, sinh năm 1997, nơi cư trú: khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. (Vắng mặt)
  7. Nguyễn Phước Quang M1, sinh năm 2003, nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Lê N và Nguyễn Trung N3 cùng ngụ tại ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Do có mâu thuẫn với nhau nên khoảng 18 giờ 00 phút ngày 28/01/2022, Nguyễn Lê N gọi điện rủ Trần Thanh P và Nguyễn Minh N1 đi đánh nhau giúp N thì P và N1 đồng ý. Sau đó, N1 gọi điện rủ Trần Thanh P1 cùng đi thì P1 cũng đồng ý nên N1 chạy xe đến nhà P1, lúc này tại nhà P1 có P và một đối tượng tên Cá Con là bạn của P1. P rủ cả nhóm đi giúp N đánh nhau thì tất cả đồng ý. Cả bọn còn bàn nhau đi đến nhà Nguyễn Quốc T3 để rủ T3 cùng đi giúp N đánh nhau. Khi đến nhà T3 thì P nói P1 và N1 vào rủ T3, còn P chở Cá Con bằng xe mô tô biển số 72H6-4211 đi đến chỗ N trước. P1 vào nhà rủ T3 và được T3 đồng ý. Lúc này tại nhà của T3 có Nguyễn Văn H2 (em ruột của T3), Nguyễn Phước K, Thiềm Hồng S1 đang chơi tại nhà T3 nên T3 rủ Văn H2, K, S1 cùng đi đánh nhau thì được Văn H2, K, S1 đồng ý. Sau đó Văn H2 chở T3 bằng xe mô tô hiệu Honda Vison biển số 72F1-30653, S1 chở K bằng xe Honda Wave biển số 72K1-56069, N1 chở P1 bằng xe Wave RS màu đỏ, không rõ biển số, rồi tất cả đi từ nhà T3 tại ấp K, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đến ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai để gặp N. Khi đi P1 và T3 mang theo mỗi người một con dao tự chế giấu trong người.

Cùng thời điểm trên, N rủ thêm Nguyễn Phước Quang M1 đi giúp N nhưng không nói rõ là giúp gì. Khoảng 18h30 phút cùng ngày, nhóm P, P1, N1, Cá C, T3, Văn H2, S1 và K đến gặp N tại quán cà phê không tên tại ấp A, xã X, huyện C. Tại đây N đi ra phía sau quán nước lấy một giỏ xách đựng hung khí gồm dao tự chế, gậy bóng chày, tuýp sắt rồi đưa cho M1 một cây dao tự chế dài khoảng 60cm sau đó M1 đưa cho K; P nhận từ N một cây gậy bóng chày, P1 nhận từ N thêm một tuýp sắt; riêng S1, Văn H2 chạy xe nên không cầm hung khí. Thấy mọi người chia nhau hung khí, Minh lúc này đã nhận thức được nhóm N đang chuẩn bị đi đánh nhau nhưng vẫn đồng ý đi theo. Sau đó, N chở M1 đi trước dẫn đường, S1 chở K, P chở Cá C, N1 chở P1, Văn H2 chở T3 đi theo N đến nhà Nguyễn Trung N3 tại ấp A, xã X, huyện C.

Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của N đến nhà N3 thì thấy N3 đang nhậu ở thềm nhà cùng với Nguyễn Trung H1, là anh ruột N3 cùng một số bạn bè của gia đình N3. N gọi N3 ra nói chuyện nhưng N3 không ra nên N giật con dao tự chế từ tay P1 cùng với K, T3 và N1 cầm dao tự chế, Phong cầm tuýp sắt, P cầm gậy bóng chày và dao tự chế xông vào trong sân nhà chém N3, T và những người đang ngồi nhậu với N3, còn M1, S1, Văn H2 và Cá con đứng ngoài giữ xe. Thấy nhóm N cầm hung khí xông vào, N3 cùng những người nhậu chung với N3 chạy vào trong nhà trốn còn Trung Hiếu vẫn còn ngồi ở thềm nhà, N cầm một con dao dài khoảng 60cm xông về phía Trung Hiếu nên Trung H1 đứng dậy thì bị N cầm dao chém một phát trúng cổ tay phải gây thương tích. Thấy vậy, những người nhậu chung với N3 lấy đồ đạc trong nhà ném về phía nhóm N để ngăn cản. T3, K, P1, P và N1 dùng hung khí đánh nhóm N3 nhưng không trúng ai.

Sau khi gây thương tích cho Trung H1 thì nhóm của N trốn khỏi hiện trường, còn Trung H1 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0123/TgT/2022 ngày 29/01/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Nguyễn Trung H1, áp dụng theo thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 là: 04% (Bốn phần trăm). Đồng thời đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) Công an huyện C trưng cầu giám định bổ sung khi nạn nhân điều trị ổn định để xác định đầy đủ tổn thương và di chứng kèm theo nếu có.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0229/TgT/2022 ngày 24/3/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định bổ sung của Nguyễn Trung H1, áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 là 46% (Bốn mươi sáu phần trăm).

Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HS-ST ngày 28/11/2022 của TAND huyện Cẩm Mỹ đã xử phạt Trần Thanh P1 06 năm 06 tháng tù; Trần Thanh P 06 năm tù; Nguyễn Quốc T3 06 năm tù; Nguyễn Phước K 05 năm 06 tháng tù và tổng hợp hình phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại Bản án số 21/2022/HS-ST ngày 15/3/2022 của TAND huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, buộc K phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 11 năm tù; Nguyễn Văn H2 05 năm tù; Thiềm Hồng S1 05 năm tù và Nguyễn Phước Quang M1 05 năm tù cùng về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là BLHS). Nguyễn Quốc T3, Nguyễn Văn H2 và Nguyễn Phước Quang M1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng Bản án hình sự phúc thẩm số 63/2023/HS-PT ngày 02/3/2023 của TAND tỉnh Đồng Nai không chấp nhận.

Riêng Nguyễn Lê N, Nguyễn Minh N1 và đối tượng tên Cá Con bỏ trốn nên được tách ra xử lý sau. Ngày 06/9/2023 Nguyễn Lê N đến Công an huyện N đầu thú về hành vi “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng”, sau đó bị CQCSĐT khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Chế tạo, tang trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 của BLHS. Ngày 08/11/2023, Nguyễn Minh N1 đã đến Công an huyện C, tỉnh Đồng Nai để đầu thú.

Về trách nhiệm dân sự: đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HS-ST ngày 28/11/2022 của TAND huyện Cẩm Mỹ và bị hại Nguyễn Trung H1 không có yêu cầu gì thêm.

Bản cáo trạng số: 03/CT-VKSCM ngày 03/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) huyện C, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Nguyễn Lê N và Nguyễn Minh N1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX): Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Lê N và Nguyễn Minh N1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

+ Đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 58, Điều 38 của BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Lê N mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù

+ Đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 38 của BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N1 mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra (CQĐT), Điều tra viên, VKSND và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, HĐXX nhận thấy: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành các thủ tục tố tụng và thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS); đảm bảo được quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố; quá trình điều tra các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của CQĐT, Điều tra viên, VKSND và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự, người làm chứng tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy: những người vắng mặt, gồm: bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng. Đối với sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng: đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng trong hồ sơ; bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt không ai yêu cầu hoãn phiên tòa để triệu tập họ và việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại các điều 292, 293 của BLTTHS.

[3] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Lê N và Nguyễn Minh N1 cơ bản đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng, cụ thể: bị cáo N thừa nhận do có mâu thuẫn với anh N3 trước đó nên N gọi điện thoại nhờ các đồng phạm đến hỗ trợ bị cáo đánh anh N3, bị cáo chuẩn bị sẵn các hung khí cho đồng bọn, khi bị cáo đi vào sân nhà để nói chuyện với anh N3 thì đã bị anh Trung H1 dùng dao phát cỏ dài 1,5m chém trúng đầu nên bị cáo mới giật dao trên tay của P1 để chống lại, tuy nhiên bị cáo khẳng định thương tích của anh Trung H1 không phải do bị cáo và nhóm bên bị cáo gây ra mà có thể là do chính những người phía bên anh Trung H1 gây ra; bị cáo N1 thừa nhận có nhận lời giúp và đi cùng bị cáo N đến nhà anh N3 nhưng bị cáo cho rằng mình không cầm theo hung khí, cũng không tham gia đánh với nhóm của N mà bị cáo chỉ đứng ngoài đường, hô hào nhắc nhỡ đồng bọn chỉ được đứng ngoài sân, không được xông vào trong nhà và việc camera ghi nhận hình ảnh bị cáo cầm trên tay con dao tự chế là bị cáo nhặt được khi bị những người trong nhà ném đồ vật chống trả lại, không phải bị cáo cầm theo ngay từ đầu. Mặc dù vậy, xét lời khai của bị cáo N tại phiên tòa không đúng với lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra, không phù hợp lời khai của người bị hại và của những người là đồng bọn của bị cáo đã bị xét xử trước đây, cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án; vẫn có đủ căn cứ xác định: vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28/01/2022, tại nhà của anh Nguyễn Trung H1 thuộc ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, các bị cáo Nguyễn Lê N và Nguyễn Minh N1 cùng với Trần Thanh P, Trần Thanh P1, Nguyễn Quốc T3, Nguyễn Phước K, Nguyễn Văn H2, Thiềm H, Nguyễn Phước Quang M1 và đối tượng tên thường gọi là Cá C đã có hành vi dùng dao tự chế, kiếm N, gậy bóng chày, tuýp sắt đánh nhóm anh Nguyễn Trung H1, trong đó chính bị cáo Nguyễn Lê N là người dùng dao tự chế trực tiếp chém trúng tay phải của Nguyễn Trung H1 gây ra thương tích với tỷ lệ thương tật là 46%. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Lê N và Nguyễn Minh N1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự.

[4] Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống mà bị cáo N đã rủ rê các bị cáo khác dùng dao tự chế, kiếm N1, gậy bóng chày, tuýp sắt làm hung khí là các tình tiết quy định tại điểm a, i khoản 1 và gây thương tích cho anh Nguyễn Trung H1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 46% nên thuộc trường hợp định khung hình phạt tại điểm c khoản 3 Điều 134 của BLHS.

[5] Đây là vụ án đồng phạm “Cố ý gây thương tích” có tính chất đơn giản, trong đó bị cáo N giữ vai trò chính, bị cáo đã cầm đầu, rủ rê các đồng phạm, chuẩn bị hung khí cho cả nhóm và trực tiếp dùng dao chém gây ra thương tích 46% của anh H1 nên phải chịu hình phạt cao nhất trong số các đồng phạm; Bị cáo N1 tiếp nhận ý chí của N, tham gia vai trò thực hành giúp sức, tuy bị cáo không gây thương tích cho ai nhưng đã cổ vũ về tinh thần cho bị cáo N nên phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của mình.

[6] Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo N và N1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo N1 đã khai báo thành khẩn về hành vi Cố ý gây thương tích của mình và đã ra đầu thú nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một phần cho bị cáo. Đối với bị cáo N, tại phiên tòa đã thay đổi lời khai, quanh co, không thừa nhận chính mình gây thương tích cho anh Trung H1, bị cáo còn cho rằng khi ra đầu thú tại Công an huyện N đã khai báo về hành vi gây thương tích tại X nhưng không có cơ sở chấp nhận; do đó, bị cáo không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS.

[8] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt, bên cạnh đó cũng để răn đe và phòng ngừa chung.

[9] Đối với đối tượng tên Cá Con hiện chưa rõ nhân thân lai lịch nên chưa làm việc được. CQCSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi “Cố ý gây thương tích” của đối tượng tên Cá Con để tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp.

[10] Về trách nhiệm dân sự: đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HS-ST ngày 28/11/2022 của TAND huyện Cẩm Mỹ và bị hại Nguyễn Trung H1 không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[11] Về án phí: Bị cáo N và N1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp pháp luật và phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134 của BLHS

Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Lê N (T) và Nguyễn Minh N1 (N) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  • - Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 58; Điều 38 của BLHS;
  • Xử phạt: bị cáo Nguyễn Lê N 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ để thi hành án.
  • - Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 38 của BLHS;
  • Xử phạt: bị cáo Nguyễn Minh N1 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt, tạm giữ và tạm giam: 08/11/2023.
  • - Về án phí: Căn cứ Điều 136 của BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án
  • Buộc các bị cáo N và N1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt thì thời hạn 15 ngày kháng cáo được tính từ ngày nhận tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật tố tụng hình sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hà Thế N

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Lê N và ĐP, “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger