Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HNGĐ-PT

Ngày 25 - 9 - 2024

V/v Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Phương

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hiền

Bà Đinh Cẩm Đào

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nguyên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2024/TLPT-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn”.

Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 100/2024/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 24/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Thành B, sinh năm 1946; Địa chỉ cư trú: Số A đường Q, khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Văn T - Văn phòng Luật sư Ngô Đình C, thuộc Đoàn luật sư tỉnh C (có mặt).

- Bị đơn: Bà Phạm Kim H, sinh năm 1953; Địa chỉ cư trú: Số A đường Q, khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Lê Hữu N, sinh năm 1979; Địa chỉ cư trú: Số A đường Q, khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Văn N1 - Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh C (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Bùi Thanh T1, sinh năm 1986 (vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Như Ý, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Bà Phạm Kim H (là bị đơn).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo lời trình bày của các bên đương sự và kết quả xét xử sơ thẩm, vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Lê Thành B và bà Phạm Kim H là vợ chồng đã được Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử cho ly hôn và chia tài sản chung gồm nhà, đất tại số D L, khóm E, phường D, thành phố C và nhà đất tại số A Q, khóm C, phường E, thành phố C theo Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 50/2021/HNGĐ-ST ngày 30/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau. Tài sản chung còn lại chưa chia là phần đất 624m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 584104 cấp ngày 21/7/2003, tọa lạc tại ấp B, xã L, thành phố C. Phần đất này theo đo đạt thực tế là 968,8m² (bao gồm cả diện tích đất quy hoạch hành lang lộ giới) thuộc thửa 41 tờ bản đồ số 64 (Bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009) và hiện đang do vợ chồng ông Bùi Thanh T1, bà Nguyễn Như Ý thuê làm cơ sở kinh doanh, mua bán theo Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất lập ngày 07/9/2015. Do tranh chấp với nhau trong việc phân chia tài sản chung nên ông Lê Thành B khởi kiện.

Theo ông Lê Thành B xác định, phần đất còn lại chưa chia là 624m² tại ấp B, xã L, thành phố C là tài sản chung của vợ chồng nên ông yêu cầu được chia ½ diện tích, yêu cầu được nhận đất; chấp nhận tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê đất với vợ chồng ông Bùi Thanh T1 cho đến khi hết hạn hợp đồng và yêu cầu bà Phạm Kim H trả lại ½ số tiền cho thuê căn nhà số D đường L, tiền cho thuê đất tại ấp B xã L tổng cộng bằng 110.000.000 đồng.

Bà Phạm Kim H thì xác định phần đất tại ấp B, xã L, thành phố C chỉ được cấp Quyền sử dụng 624m² và thuộc tài sản chung của hộ gia đình của bà cùng với ông Lê Thành B và các (Hai) người con chung. Do các con có công sức đóng góp vào khối tài sản chung này nên bà không đồng ý chia đôi đất theo yêu cầu của ông Lê Thành B mà yêu cầu được giữ lại để chia cho các con chung. Tiền cho thuê nhà số D L thì bà không đồng ý giao lại vì bà và ông Lê Thành B đã dùng vào sinh hoạt chung của gia đình, chỉ đồng ý giao lại ½ tiền cho thuê đất ở ấp B, xã L bằng 62.208.000 đồng.

Ông Bùi Thanh T1 xác định việc vợ chồng ông thuê đất để làm cơ sở kinh doanh thì đến ngày 07/9/2025 mới hết hạn hợp đồng thuê. Nếu việc phân chia đất giữa nguyên đơn và bị đơn có ảnh hưởng đến hợp đồng thuê thì yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê trước hạn, ông Lê Thành B, bà Phạm Kim H phải bồi thường cho vợ chồng ông số tiền theo thỏa thuận là 1.500.000.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Lê Thành B rút lại yêu cầu khởi kiện đối với khoản tiền cho thuê nhà, thuê đất 110.000.000 đồng.

Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 100/2024/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã quyết định:

- Chấp nhận một phần yêu cầu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia tài sản chung sau khi ly hôn.

- Ông Lê Thành B được chia 484,3m² thuộc một phần thửa đất số 41, tờ bản đồ số 64, tọa lạc tại ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau; đất được cấp Giấy chứng nhận số X 584104 ngày 18/4/2001 và cấp đổi ngày 21/7/2003, trong đó có 150m² đất loại ONT, còn lại là loại đất CLN và đất thuộc quy hoạch lộ giới.

- Bà Phạm Kim H được chia 484,5m² thuộc một phần thửa đất số 41, tờ bản đồ số 64, tọa lạc tại ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau; đất được cấp theo Giấy chứng nhận số X 584104 ngày 18/4/2001 và cấp đổi ngày 21/7/2003, trong đó có 150m² đất loại ONT còn lại là loại đất CLN và đất thuộc quy hoạch lộ giới.

(kèm theo vị trí các phần đất và bản Trích đo hiện trạng và Sơ đồ thửa đất của Trung tâm K).

- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Thành B và bà Phạm Kim H về việc cho ông Bùi Thanh T1 và bà Nguyễn Như Ý tiếp tục quản lý, sử dụng phần diện tích đất theo Hợp đồng thuê ký kết ngày 07/9/2015.

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bà Phạm Kim H trả lại tiền cho thuê nhà 110.000.000đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 31/5/2024, bà Phạm Kim H kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành B.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Phạm Kim H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Cà Mau xác định: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Kim H. Sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 100/2024/HNGĐ-ST ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau theo hướng chấp nhận chia đôi diện tích phần đất 624m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 584104 ngày 18/4/2001 và cấp đổi ngày 21/7/2003 cho ông Lê Thành B, bà Phạm Kim H. Không phân chia diện tích đất thuộc quy hoạch hành lang lộ giới Quốc lộ A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Xét kháng cáo của bà Phạm Kim H được thực hiện trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Lê Thành B đã rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bà Phạm Kim H giao lại số tiền 110.000.000 đồng từ việc cho thuê nhà, thuê đất. Việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành B tại phiên tòa sơ thẩm là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự để đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành B về việc đòi lại tiền cho thuê nhà, đất là có căn cứ.

[3] Xét về nội dung tranh chấp và kháng cáo của bà Phạm Kim H cho thấy:

Ông Lê Thành B và bà Phạm Kim H là vợ chồng đã được Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau giải quyết cho ly hôn tại Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 50/2021/HNGĐ-ST ngày 30/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau. Khi giải quyết cho ly hôn, các quan hệ về con, tài sản và nợ cũng đã được Tòa án xem xét giải quyết. Trong việc phân chia tài sản chung khi ly hôn thì phần đất 624m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 584104 cấp ngày 21/7/2003 tọa lạc tại ấp B, xã L, thành phố C chưa được xem xét để phân chia. Sau khi ly hôn, giữa ông Lê Thành B và bà Phạm Kim H có tranh chấp với nhau về việc phân chia tài sản đối với phần đất trên và ông Lê Thành B khởi kiện.

Phần đất 624m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 584104 cấp ngày 21/7/2003 tọa lạc tại ấp B, xã L, thành phố C. Theo kết quả đo đạt thực tế là 968,8m² thuộc thửa 41 tờ bản đồ số 64 (Bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009), diện tích đo đạt thực tế này bao gồm cả diện tích đất thuộc quy hoạch hành lang lộ giới của Quốc lộ A và nằm ngoài diện tích được cấp quyền sử dụng đất. Phần diện tích đất 624m² đã được Công ty TNHH T2 và Thẩm định giá CITYLAND thẩm định giá trị bằng 10.862.000.000 đồng và đang được ông Lê Thành B, bà Nguyễn Kim H1 cho vợ chồng ông Bùi Thanh T1, bà Nguyễn Như Ý thuê để xây cất cơ sở kinh doanh, thời hạn thuê 10 năm theo Hợp đồng thuê ký kết ngày 07/9/2015. Ông Lê Thành B xác định phần đất nêu trên là tài sản chung của vợ chồng, chưa được phân chia nên yêu cầu được chia ½ diện tích đất và nhận đất (không nhận giá trị đất). Còn bà Phạm Kim H cho rằng phần đất trên là tài sản chung của hộ gia đình bà với ông Lê Thành B và các con chung. Do có công sức đóng góp của những người con trong gia đình nên bà không đồng ý phân chia theo yêu cầu của ông Lê Thành B mà để lại chia cho các con chung.

Tại Văn bản số: 580/UBND-TNMT ngày 15/02/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố C đã xác định việc cấp quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận số X 584104 ngày 18/4/2001 và cấp đổi ngày 21/7/2003 là cấp cho ông Lê Thành B và bà Phạm Kim H chứ không phải cấp cho hộ gia đình. Ngoài ra, bà Phạm Kim H cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh phần đất trên là tài sản của hộ gia đình. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Hữu N (là người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Kim H và cũng là con của bà Phạm Kim H, ông Lê Thành B) đã xác định vào thời điểm ông Lê Thành B, bà Phạm Kim H nhận chuyển nhượng phần đất 624m² (phần đất đang tranh chấp trong việc phân chia) thì các người con trong gia đình (là Lê Hữu N, Lê Kim N2, Lê Kim L) còn đi học, chưa có nghề nghiệp thu nhập riêng và cũng không có tài sản gì góp vào việc nhận chuyển nhượng đất mà chỉ có công sức đóng góp chung trong việc sinh hoạt của gia đình. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần đất 624m² theo Giấy chứng nhận số X 584104 ngày 18/4/2001 và cấp đổi ngày 21/7/2003 là tài sản chung của ông Lê Thành B và bà Phạm Kim H và phân chia mỗi người ½ diện tích đất là có căn cứ và phù hợp với quy định tại các Điều 59, 62 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, kháng cáo của bà Phạm Kim H về việc xác định tài sản chung của hộ gia đình có công sức đóng góp của con chung là không có căn cứ để chấp nhận.

Đối với nội dung kháng cáo liên quan đến diện tích đất được phân chia thì phần đất tọa lạc tại ấp B, xã L, thành phố C chỉ được cấp quyền sử dụng cho ông Lê Thành B, bà Nguyễn Kim H1 diện tích 624m² và phần đất này có một mặt (mặt tiền) giáp với Quốc lộ A, các mặt còn lại có ranh giới rõ ràng và không có tranh chấp. Qua kết quả đo đạt kết hợp với sơ đồ khu đất được cấp tại Giấy chứng nhận số X 584104 ngày 21/7/2003 thì từ vị trí giáp Quốc lộ A đến vị trí phần đất được cấp quyền sử dụng là phần đất thuộc hành lang an toàn giao thông đường bộ Quốc lộ A có diện tích 344,8m². Khi đo đạt trên thực địa, cơ quan đo đạt xác định diện tích bao gồm cả diện tích đất thuộc hành lang an toàn giao thông đường bộ Quốc lộ A nên diện tích phần đất có lớn hơn so với diện tích đất được cấp quyền sử dụng (968,8m²/624m²). Từ kết quả đo đạt đã thể hiện phần đất 344,8m² thuộc quy hoạch hành lang an toàn giao thông đường bộ Quốc lộ A nằm ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho bà Phạm Kim H, ông Lê Thành B và khi phân chia đất cho ông Lê Thành B và bà Phạm Kim H Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã phân chia cho các bên cả phần diện tích hành lang an toàn giao thông đường bộ nêu trên.

Tại Văn bản số: 4307/UBND-TNMT ngày 22/9/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố C đã xác định phần diện tích đất 344,8m² là phần đất nằm ngoài diện tích được cấp quyền sử dụng cho ông Lê Thành B, bà Nguyễn Kim H1 và thuộc diện tích đất thuộc giới hạn hành lang bảo vệ công trình giao thông đường bộ Quốc lộ A. Mốc giới phần đất được cấp quyền sử dụng được xác định theo phần đất giới hạn hành lang bảo vệ cũng được người sử dụng đất biết và tự xác định tại Đơn xin sang nhượng đất vườn tạp được Ủy ban nhân dân xã L xác nhận ngày 29/6/1999. Theo khoản 4 Điều 43 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, quy định: “Người đang sử dụng đất được pháp luật thừa nhận mà đất đó nằm trong hành lang an toàn đường bộ thì được tiếp tục sử dụng đất theo đúng mục đích đã được xác định và không được gây cản trở cho việc bảo vệ an toàn công trình đường bộ. ” và theo quy định của Luật đất đai năm 2013; Khoản 3 Điều 210 Luật Đất đai năm 2024, quy định: “3. Đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng đất theo đúng mục đích đã được xác định và theo quy định của pháp luật; không được gây cản trở cho việc bảo vệ an toàn công trình, khu vực có hành lang bảo vệ an toàn,”. Như vậy, người đang sử dụng đất đã được công nhận quyền sử dụng đất mà đất đó nằm trong hành lang an toàn đường bộ thì được tiếp tục sử dụng đất theo đúng mục đích đã được xác định và không được gây cản trở cho việc bảo vệ an toàn công trình đường bộ.

Đối với phần đất mà ông Lê Thành B, bà Phạm Kim H được cấp không nằm trong diện tích đất hành lang an toàn giao thông đường bộ và phần diện tích đất còn lại 344,8m² là thuộc giới hành lang an toàn giao thông đường bộ Quốc lộ A, không được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Thành B, bà Nguyễn Kim H1. Nên phần đất này không được phân chia cho ông Lê Thành B và bà Phạm Kim H mà thuộc quyền quản lý của Nhà nước. Ông Lê Thành B, bà Phạm Kim H khi có nhu cầu khai thác, sử dụng phần đất thuộc hành lang an toàn giao thông đường bộ nêu trên, tương ứng với hiện trạng phần đất được chia thì phải được sự chấp nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và đúng theo quy định của pháp luật về đất đai và các quy định khác của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ.

Từ đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm phân chia đất cho ông Lê Thành B, bà Phạm Kim H đối với diện tích đất thuộc hành lang an toàn giao thông đường bộ Quốc lộ A là không phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy kháng cáo của bà Phạm Kim H không đồng ý chia cho ông Lê Thành B phần diện tích đất ngoài diện tích được cấp quyền sử dụng nhưng do phần đất này là diện tích đất thuộc đất hành lang an toàn giao thông đường bộ nên cũng không thuộc quyền sử dụng của bà Phạm Kim H hay ông Lê Thành B mà thuộc quyền quản lý của cơ quan Nhà nước. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất không yêu cầu phân chia phần đất thuộc hành lang an toàn giao thông đường bộ Quốc lộ A có diện tích 344,8m² vì phần đất này thuộc quyền quản lý của Nhà nước, các đương sự chỉ yêu cầu xem xét giải quyết đối với phần đất đã được cấp quyền sử dụng có diện tích 624m².

Tại theo bản Trích đo hiện trạng lập ngày 17/5/2019 và Sơ đồ thửa đất kèm theo Công văn số 598/CV-TTKTCNQT ngày 24/9/2024 của Trung tâm Kỹ thuật - Công nghệ - Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh K thì phần đất 624m² được giới hạn tại các điểm mốc: M3, M4, M4', M3' của Sơ đồ thửa đất lập ngày 24/9/2024. Do phần đất này được chia đôi cho ông Lê Thành B và bà Phạm Kim H, nên Sơ đồ thửa đất lập ngày 24/9/2024 của Trung tâm Kỹ thuật - Công nghệ - Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh K, được bổ sung thêm 02 điểm mốc là M5 và M6 để phân định ranh của 02 phần đất được chia cho bà Phạm Kim H và ông Lê Thành B (trong đó: M4M5=M5M3=7,95m; M4’M6=M6M3'=8,005m).

Đối với kháng cáo của bà Phạm Kim H về việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa các con của bà và ông Lê Thành B vào tham gia tố tụng và việc xét xử vắng mặt bà là vi phạm quy định chung. Tuy nhiên, qua phân tích trên cho thấy phần tài sản tranh chấp là tài sản chung của vợ chồng chưa được phân chia, không liên quan đến quyền lợi về tài sản của con chung. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã quy định cho bà Phạm Kim H, ông Lê Thành B cung cấp họ tên, địa chỉ của các người con nhưng cho đến nay bà Phạm Kim H và ông Lê Thành B không cung cấp. Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã triệu tập bà Phạm Kim H dự phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Bà Phạm Kim H vắng mặt nhưng không cung cấp được lý do chính đáng nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt bà Phạm Kim H là có căn cứ nên không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Kim H.

[4] Từ nhận định trên, có căn cứ để chấp nhận một phần kháng cáo của bà Phạm Kim H. Sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 100/2024/HNGĐ-ST ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp theo nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về chi phí đo đạt và chi phí thẩm định giá tổng cộng bằng 30.372.000 đồng đã được ông Lê Thành B chi trả xong. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Phạm Kim H trả lại cho ông Lê Thành B ½ chi phí tố tụng bằng 15.186.000 đồng là phù hợp.

[7] Bà Phạm Kim H được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định chung.

[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự;

    Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Phạm Kim H. Sửa bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 100/2024/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

  2. Căn cứ các Điều 28, 147, 148, 157, 165, 217, 218 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 59, 62 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Chấp nhận yêu cầu yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành B về việc chia tài sản chung sau ly hôn. Phần đất được phân chia có diện tích 624m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 584104, cấp ngày 21/7/2003, tọa lạc tại ấp B, xã L, thành phố C và được phân chia cụ thể sau:

  • - Ông Lê Thành B được chia phần đất có diện tích 312m² (trong đó có 150m² thuộc loại đất ONT và 162m² thuộc loại đất CLN). Vị trí phần đất được xác định theo các điểm mốc: M4,M5,M6,M4’(theo Sơ đồ thửa đất lập ngày 24/9/2024 của Trung tâm K).
  • - Bà Phạm Kim H được chia phần đất có diện tích 312 m² (trong đó có 150m² thuộc loại đất ONT và 162m² thuộc loại đất CLN). Vị trí phần đất được xác định tại các điểm mốc: M3,M5,M6,M3’(theo Sơ đồ thửa đất lập ngày 24/9/2024 của Trung tâm K).

(Kèm theo bản Trích đo hiện trạng và Sơ đồ thửa đất lập ngày 24/9/2024 của Trung tâm Kỹ thuật - Công nghệ - Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh K).

  • - Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Thành B, bà Phạm Kim H chấp nhận ông Bùi Thanh T1, bà Nguyễn Như Ý tiếp tục quản lý, sử dụng phần diện tích đất theo Hợp đồng thuê ký kết ngày 07/9/2015.
  • - Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành B về việc buộc bà Phạm Kim H trả lại tiền cho thuê nhà, đất bằng 110.000.000đồng.
  • - Chi phí tố tụng: Buộc bà Phạm Kim H có trách nhiệm hoàn trả cho ông Lê Thành B chi phí đo đạc, thẩm định giá bằng số tiền 15.186.000 đồng.
  • - Ông Lê Thành B và bà Phạm Kim H được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân TP. Cà Mau;
  • - Chi Cục THADS TP.Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT (TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-PT ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp chia tài sản sau ly hôn

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 31/5/2024, bà Phạm Kim Hiền kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành Ba. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Phạm Kim Hiền giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger