|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/HS-ST
Ngày: 25/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hảo
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Lê Thị Đào
Ông Tạ Đức Bằng
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Huệ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy tham gia phiên toà:Ông Lê Hiệp Thương, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:28/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với:
1.Bị cáo: Bùi Văn L, sinh ngày 06/8/1967; Nơi cư trú: Xóm C, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T và bà Đinh Thị T1 (đều đã chết); Vợ Bùi Thị P, có 03 con lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1994.
Tiền án; Tiền sự: Không:
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 05/3/2024 đến ngày 02/5/2024;Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên tòa.
*Người bào chữa cho bị cáo L: ông Vũ Đình H – trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh H. – Vắng mặt (bị cáo từ chối người bào chữa tại phiên tòa).
2.Người bị hại.
Bùi Văn T2, sinh năm 1988 – Có mặt
Địa chỉ: xóm C, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại Bùi Văn T2 là bà Đinh Thị Y – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H – Có mặt
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bùi Thị P, sinh năm 1965 – Có mặt
- Bùi Văn Đ, sinh năm 1997 – Vắng mặt
Cùng địa chỉ: xóm Chồn Nâu, xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
4. Người làm chứng:
- Bùi Văn T3, sinh năm 1984 – Vắng mặt
- Bùi Văn Đ1, sinh năm 1981– Có mặt
- Bùi Văn S, sinh năm 1978– Có mặt
- Bùi Văn B, sinh năm 1988– Có mặt
Cùng địa chỉ: xóm C, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình
- Bùi Văn T4, sinh năm 1985- – Có mặt
Địa chỉ: xóm H, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình
III. Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa: Không.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19h ngày 22/11/2023, Bùi Văn L, sinh năm 1967, trú tại xóm C, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình có đến nhà Bùi Văn Đ, sinh năm 1997, thuộc xóm C, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình ngồi uống rượu cùng với Bùi Văn B, sinh năm 1988; Bùi Văn S, sinh năm 1978; Bùi Văn T3, sinh năm 1984 và Bùi Văn T2, sinh năm 1988 cùng trú tại xóm C, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình đến khoảng 21 giờ cùng ngày. Sau khi ăn uống xong, Bùi Văn L, Bùi Văn Đ1, Bùi Văn T3 và Bùi Văn T2 rủ nhau ra ruộng đất phía sau nhà anh Bùi Văn Đ để đánh bạc sát phạt nhau được thua bằng tiền dưới hình thức đánh liêng. Trong quá trình đánh bạc, giữa Bùi Văn L và Bùi Văn T3, Bùi Văn T2 có xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, sau đó lao vào giằng co với nhau, thấy vậy Bùi Văn Đ1 ôm và kéo ông Bùi Văn L ra để can ngăn khiến Bùi Văn Đ1 và Bùi Văn L ngã xuống mương nước gần đó. Nghe thấy tiếng cãi chửi nhau nên Bùi Văn T4, sinh năm 1985, trú tại xóm H, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình từ nhà Bùi Văn Đ chạy ra cùng Đ1 can ngăn không cho T2, T3 và L xô
xát đánh nhau. Sau đó, Đ1 cùng T4 và Lưu đi về quán ăn nhà Bùi Văn Đ, T2 và T3 đi vòng về phía chân núi để về nhà. Một lúc sau thì Bùi Văn T2 quay lại nhà Bùi Văn Đ để lấy xe mô tô, tại đây giữa T2 và L lại tiếp tục xảy ra cãi chửi nhau, do bực tức nên Bùi Văn L chạy từ ngoài vào phòng bếp và lấy 01 con dao một lưỡi sắc, kích thước dài 42 cm, rộng nhất là 7 cm, phần lưỡi dao dài 29 cm bằng kim loại chạy đến chém 02 nhát về phía người T2, một nhát trúng vào vùng đầu, tai bên trái Bùi Văn T2, một nhát trúng vào tay trái của T2. Ngay sau đó được mọi người can ngăn, Lưu vứt con dao lại tại hiện trường và được Bùi Văn T4 đưa về nhà, ngay sau đó L được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh NVăn T2 được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N.
Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 308/KLTTCT-TTPY, ngày 22/12/2023 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế tỉnh H kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Văn L tại thời điểm giám định là 03% (Ba phần trăm). Đặc điểm vật gây thương tích: Vật tày
Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 307/KLTTCT-TTPY, ngày 22/12/2023 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế tỉnh H kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Văn T2 tại thời điểm giám định là 20% (Hai mươi phần trăm). Đặc điểm vật gây thương tích: Vật sắc
Bản kết luận giám định số 9182/KL-KTHS, ngày 16/01/2024 của V - Bộ C kết luận:
“1. Trên con dao ký hiệu D gửi giám định có bám dính máu người và là máu của Bùi Văn T2, không phát hiện thấy máu của Bùi Văn L.
2. Các dấu vết nghi máu ghi thu tại hiện trường ký hiệu M1 và M2 đều là máu người và đều là máu của Bùi Văn T2”
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:Đối với 01 (một) con dao dài 42cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 29cm, phần rộng nhất 07 cm, chuôi dao bằng gỗ dài 13cm chốt khâu kim loại hai đầu, mặt ngoài lưỡi dao bám nhiều tạp chất màu nâu. Con dao được bọc kín, niêm phong, bên ngoài có chữ ký và dấu của V - Bộ C là vật chứng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thuỷ quản lý chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã xác minh, điều tra làm rõ: Tối ngày 22/11/2023, bị can Bùi Văn L cùng với Bùi Văn T2, sinh năm 1988; Bùi Văn T3, sinh năm 1984 và Bùi Văn Đ1, sinh năm 1981, cùng trú tại xóm C, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình có hành vi đánh bạc sát phạt nhau được thua bằng tiền dưới hình thức đánh liêng tại xóm C, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Tổng số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc là 820.000 đồng, các đối tượng nêu trên không có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc, tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc”. Do đó hành vi của các đối tượng chưa đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 321 BLHS. Cơ quan cảnh sát điều tra
Công an huyện Y đã chuyển toàn bộ hồ sơ vi phạm đến Công an xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình để xử lý là đúng quy định của pháp luật.
+ Đối 01 (một) con dao dài 42cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 29cm, phần rộng nhất 07 cm, chuôi dao bằng gỗ dài 13cm chốt khâu kim loại hai đầu,xác minh làm rõ tài sản trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1997, trú tại xóm C, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Quá trình điều tra vụ án, anh Đ không yêu cầu nhận lại tài sản và đề nghị bồi thường dân sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y không đề cập xử lý là đúng quy định của pháp luật.
+ Đối với thương tích của Bùi Văn L trong quá trình xảy ra sự việc, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành điều tra xác minh nhưng chưa có căn cứ xác định được ai là người gây ra thương tích cho Bùi Văn L, ngoài ra bị cáo không có yêu cầu, đề nghị gì do đó Cơ quan điều tra không đề cập giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
* Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Bùi Văn L cùng vợ là bà Bùi Thị P đã bồi thường thiệt hại cho Bùi Văn T2 số tiền 50.000.000 đồng. Bùi Văn T2 đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm.
Cáo trạng số 28/CT-VKS-YT ngày 20 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo Bùi Văn L phạm tội Cố ý gây thương tích quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn L1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”
+ Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bị cáo Bùi Văn L từ 28 đến 32 tháng tù nhưng cho hưởng án tre và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.
- Hình phạt bổ sung:Không
Về vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là công cụ phạm tội
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Bùi Văn Lưu k tranh luận và đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy truy tố.
Người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại đồng ý với cáo trạng và đề xuất của đại diện viện Kiểm sát tại phiên Tòa, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhất trí với bản luận tội và không tranh luận. Bị cáo Bùi Văn L nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, tỉnh Hòa Bình, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, những người làm chứng và các chứng cứ thu thập được trong vụ án xác định: 22/11/2023 Tại nhà Bùi Văn Đ, T2 và L mâu thuẫn, cãi nhau, do bực tức nên Bùi Văn L chạy từ ngoài vào phòng bếp và lấy 01 con dao một lưỡi sắc, kích thước dài 42 cm, rộng nhất là 7 cm, phần lưỡi dao dài 29 cm bằng kim loại chạy đến chém 02 nhát về phía người T2, một nhát trúng vào vùng đầu, tai bên trái Bùi Văn T2, một nhát trúng vào tay trái của T2 gây thương tích cho tuấn 20% (Hai mươi phần trăm). Hành vi của L đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 134 BLHS.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, xã hội tại địa phương nên xét thấy cần phải có một hình phạt nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự tương xứng với tính chất mức độ của hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Đồng thời cũng cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo khi lượng hình phạt để có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Trong vụ án này bị cáo L có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm naybị cáo đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình; Tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, được người bị hại viết đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà Nước nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một mà cho bị cáo được hưởng hình phạt có điều kiện quy định tại điều 65 bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về trách nhiệm dân sự:bị cáo và người bị hại đã thông nhất bồi thường xong toàn bộ thiệt hại, người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại
phiên tòa bị hại có mặt không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm về trách nhiệm dân sự do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 (một) con dao dài 42cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 29cm, phần rộng nhất 07 cm, chuôi dao bằng gỗ dài 13cm chốt khâu kim loại hai đầu, mặt ngoài lưỡi dao bám nhiều tạp chất màu nâu. Con dao được bọc kín, niêm phong, bên ngoài có chữ ký và dấu của V - Bộ C. Hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thuỷ là tang vật của vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[10]Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Căn cứ: Điểm đ, Khoản 2, Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65; Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn L 28 (Hai tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 56 (Năm sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/7/2024). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi hoặc vắng mặt tại nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại điều 56 của Bộ luật hình sự
2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thống nhất, thỏa thuận tự nguyện bồi thường xong toàn bộ thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm giữa bị cáo và người bị hại 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). bị hại Bùi Văn T2 đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy01 (một) con dao dài 42cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 29cm, phần rộng nhất 07 cm, chuôi dao bằng gỗ dài 13cm chốt khâu kim loại hai đầu, mặt ngoài lưỡi dao bám nhiều tạp chất màu nâu. Con dao được bọc kín, niêm phong,
bên ngoài có chữ ký và dấu của V - Bộ C.hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thuỷ
4. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c; khoản 1; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Bùi Văn L phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hảo |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn L phạm tội cố ý gây thương tích
