Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H

TỈNH TUYỂN QUANG

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày: 25 - 6 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Thiết
2. Ông Mạc Ngọc Day

- Thư ký phiên toà: Bà Vi Thị Luyến – Thư ký viên Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Cấn Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm số hóa công khai theo hình thức trực tuyến kết nối điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện H và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh T vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS, ngày 14 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Văn K, sinh ngày 18/6/2005 tại huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Cao Lan; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn Q, sinh năm 1977 và bà: Tô Thị C, sinh năm 1986; vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1985 (Vắng mặt có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 30/01/2024, Bùi Văn K, một mình điều khiển xe mô tô Honda Wave Alpha biển số 22B2-813.60 đi chơi (xe của bà Tô Thị C, sinh năm 1986 là mẹ đẻ của K). Khi đến Km35 Quốc lộ B, thuộc thôn C, xã T, huyện H thì K rẽ vào ven đường đứng để sử dụng điện thoại thì có một người đàn ông không quen biết đến gần hỏi “Ê cu! Làm tý cỏ không?”. K trả lời “Anh có à?”. Người đàn ông nói “Có chứ, còn 03 gói mày lấy nốt anh để rẻ chơ”. K và người đàn ông thỏa thuận giá mua bán là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). K đưa 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) cho người đàn ông và nhận lại 03 gói ma túy được gói trong 03 túi nilông màu trắng mép viền màu đỏ, có rãnh khóa, bên trong 03 gói đều chứa thực vật (thảo mộc). Sau đó K giấu vào túi quần đang mặc rồi đi về nhà.

Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 01/02/2024, Hoàng Văn H, sinh năm 1985, trú tại thôn Đ, xã T, huyện H sử dụng điện thoại di động gắn sim số 0397.393.135 gọi đến điện thoại gắn sim số 0353.326.xxx của Bùi Văn K hỏi mua ma túy “Cỏ mỹ” (H xin số điện thoại của K từ một người đàn ông không quen biết tại chợ K1 thuộc thôn C, xã T, huyện H giới thiệu K có ma túy “Cỏ mỹ” bán). Qua điện thoại H hỏi “Em có bán cỏ mỹ không, bán anh năm trăm”. K trả lời “Có”. Sau đó K và H hẹn nhau giao ma túy tại cây xăng K2, thuộc thôn C, xã T, huyện H. Nói chuyện xong, K điều khiển xe mô tô biển số 22B2-813.60 đến điểm hẹn thì thấy H đang đứng đợi. K điều khiển xe đến gần H, dựng chân chống xe và lấy 03 gói ma túy “Cỏ mỹ” mua ngày 30/01/2024 cầm trong lòng bàn tay trái. H lấy 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) từ trong túi quần ra cầm ở tay để mua bán thì bị tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đang làm nhiệm vụ phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với K về hành vi mua bán trái phép chất ma túy (lúc này là hồi 12 giờ 00 phút cùng ngày).

Ngày 01/02/2024, tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể đối với Bùi Văn K, Hoàng Văn H, kết quả: (-) âm tính với chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 1228/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K3 Công an thành phố H đối với vật chứng thu giữ của Bùi Văn K, kết luận: Thực vật (thảo mộc) bên trong 03 túi nilông màu trắng có mép viền màu đỏ, có rãnh khóa đều có ma túy loại MDMB-4en-PINACA, ma túy loại 5F-MDMB-PINACA và ma túy loại MDMB-CHMINACA, tổng khối lượng: 3,215g (Ba phảy hai một năm gam).

Tại Cáo trạng số 28/CT-VKSHY, ngày 13/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố Bùi Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Văn K theo tội danh, điều luật đã nêu trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Bùi Văn K phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn K từ 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (01/02/2024).
  • - Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về vật chứng Kiểm sát viên đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bì niêm phong bên trong chứa ma tuý;
  • + Trả lại cho bị cáo Bùi Văn K: 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu APPLE, kiểu máy IPHONE X màu trắng.
  • + Trả lại cho anh Hoàng Văn H: 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu ITEL it 9010 4G màu xanh đen.
  • + Trả lại cho anh Hoàng Văn H: Số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, đồng thời tuyên quyền kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn K tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố đối với bị cáo. Trình bày lời nói sau cùng, bị cáo biết mình đã sai, vi phạm pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về việc xem xét hành vi của bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn K đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố đối với bị cáo. Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định; Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, do đó có đủ cơ sở xác định:

Hồi 12 giờ 00 phút ngày 01/02/2024, tại khu vực cây xăng K2, thuộc thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, Bùi Văn K đã có hành vi tàng trữ trái phép 3,215g (Ba phẩy hai một năm gam) ma túy loại MDMB-4en-PINACA; loại 5F-MDMB-PINACA và loại MDMB-CHMINACA nhằm mục đích bán cho Hoàng Văn H, sinh năm 1985, trú tại thôn Đ, xã T, huyện H với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, vi phạm pháp luật hình sự, trực tiếp xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy - các chất gây nghiện của nhà nước và có thể là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình tình trật tự xã hội ở địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Cao Lan) cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đạc biệt khó khăn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

[4] Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Qúa trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[5] Về vật chứng:

Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 3,215g (Ba phẩy hai một năm gam) ma tuý loại MDMB-4en- PINACA; loại 5F-MDMB-PINACA và loại MDMB-CHMINACA. Sau khi đã lấy đi giám định số còn lại được niêm phong trong phong bì là vật chứng của vụ án, thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Cơ quan điều tra còn thu giữ của bị cáo 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu APPLE, kiểu máy IPHONE X màu trắng đã qua sử dụng. Ngoài sử dụng vào việc liên hệ với Hoàng Văn H, bị cáo còn sử dụng làm phương tiện liên lạc hàng ngày. Tại phiên toà bị cáo xin được trả lại, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải tịch thu nên trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại này.

Cơ quan điều tra đã thu giữ của Hoàng Văn H 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu ITEL it 9010 4G màu xanh đen đã qua sử dụng. Ngoài sử dụng vào việc liên hệ với bị cáo, H còn sử dụng làm phương tiện liên lạc hàng ngày. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải tịch thu nên trả lại cho H chiếc điện thoại này.

Cơ quan điều tra còn thu giữ số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) của H dùng để mua ma tuý. Hội đồng xét xử thấy H chưa thực hiện hành vi chuyển tiền, nhận ma tuý từ bị cáo nên cần trả lại số tiền này cho H.

[6] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Đối với Hoàng Văn H, quá trình điều tra xác định ngày 01/02/2024 có hành vi hỏi mua ma tuý của Bùi Văn K. Tuy nhiên H chưa thực hiện hành vi chuyển tiền, nhận ma tuý từ K nên không đủ căn cứ để xử lý.

Đối với bà Tô Thị C là chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 22B2-81360, không biết Bùi Văn K sử dụng xe của mình đi mua bán ma tuý nên không xem xét xử lý.

Đối với người đàn ông bán ma tuý cho K và người đàn ông giới thiệu Hoàng Văn H mua ma tuý của K, do không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xử lý.

Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với các vấn đề nêu trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn K 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (01/02/2024).

3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bì niêm phong bên trong chứa ma tuý
  • - Trả lại cho bị cáo Bùi Văn K: 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu APPLE, kiểu máy IPHONE X màu trắng.
  • - Trả lại cho anh Hoàng Văn H: 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu ITEL it 9010 4G màu xanh đen.

(Tình trạng các vật chứng như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang).

  • - Trả lại số tiền 500.000đ (Năm trăm đồng) thu giữ của Hoàng Văn H hiện đang được tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.1064845.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H tại Kho bạc nhà nước huyện H, tỉnh Tuyên Quang (theo Giấy ủy nhiệm chi ngày 22/5/2024).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện H;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an huyện H;
  • - Chi cục THADS huyện H;
  • - Bị cáo; Người TGTT khác;
  • - Sở Tư pháp TQ;
  • - Lưu HSVA, HSTHAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Minh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn K phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger