|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR TỈNH ĐĂK LĂK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST Ngày 25 - 6 - 2025 “V/v ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cường Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Y Yâo Bkrông, bà Nguyễn Thị Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Quốc Nam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Tiến- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện EaKar xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 151/2024/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 26/2024/QĐST- HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện EaKar, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1998. Địa chỉ: Thôn M, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1999. Địa chỉ: Thôn C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 17/4/2024 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H trình bày:
Ông H và bà Nguyễn Thị N có đăng ký kết hôn vào ngày 29/6/2022 tại UBND xã Ea Kmút, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc.
Sau khi kết hôn, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Bà N đã về nhà mẹ đẻ tại thôn 9, thị trấn Ea Knốp, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk sinh sống từ tháng 08/2022 nên vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Nay tình cảm vợ không còn, không thể chung sống cùng nhau được nữa. Vì vậy, ông H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông H được ly hôn bà Nguyễn Thị N.
Về con chung: Không có nên ông H không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên ông H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ea Kar đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Nhưng bà Nguyễn Thị N vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện EaKar quyết định đưa vụ án ra xét xử.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX), thư ký tại phiên tòa đảm bảo quy định về trình tự thủ tục tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị HĐXX tuyên xử cho ông Nguyễn Quốc H được ly hôn bà Nguyễn Thị N.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Nguyễn Quốc H khởi kiện yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị N. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS, đây là yêu cầu “Ly hôn”. Bị đơn hiện đang cư trú tại huyện EaKar, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.
Bà Nguyễn Thị N là bị đơn trong vụ án, trong quá trình giải quyết vụ án, bà N đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án hợp lệ nhưng bà N vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị N.
Ông Nguyễn Quốc H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Quốc H.
[2] Về hôn nhân: Ông Nguyễn Quốc H và bà Nguyễn Thị N tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 29/6/2022 tại UBND xã Ea Kmút, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk. Hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc đến cuối tháng 08/2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Qua lời trình bày của ông H, cũng như qua xác minh tại chính quyền địa phương xác định: Nguyên nhân mẫu thuẫn cụ thể chính quyền địa phương không biết do không báo chính quyền địa phương nhưng ông H và bà N đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần động viên ông H về đoàn tụ cùng bà N nhưng không thành, ông H vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn bà Nguyễn Thị N. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông Nguyễn Quốc H và bà Nguyễn Thị N mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần xử cho ông Nguyễn Quốc H được ly hôn bà Nguyễn Thị N.
[3] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có nên Toà án không đề cập giải quyết.
[4] Về án phí: Ông Nguyễn Quốc H phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Điều 266; Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 6, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H.
- - Quan hệ về hôn nhân: Xử cho ông Nguyễn Quốc H được ly hôn bà Nguyễn Thị N.
- - Về con chung: Không có nên Tòa án không đề cập giải quyết.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Toà án không đề cập giải quyết.
- Về án phí: Ông Nguyễn Quốc H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2023/000331 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện EaKar.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Cường Anh |
Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn
- Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông H yêu cầu ly hôn bà N
