|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24-8-2023 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Quỳnh Như.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Bạch Tuyết;
- Bà Trần Thị Ngọc Hân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Chuẩn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Kim Châu, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim X, sinh năm 1970; địa chỉ: Số B tổ E, ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số B ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
- Bị đơn: Ông Sầm Văn H, sinh năm 1966; địa chỉ: Số B tổ E, ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Kim X trình bày: Bà và ông H chung sống và kết hôn vào năm 1992, tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và năm 1992 có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện C. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 1995 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi vả. Nguyên nhân do ông H không quan tâm gia đình, không lo làm ăn phụ giúp kinh tế còn ham mê cờ bạc, cá độ đá banh, đá gà gây nợ nần gánh nặng cho gia đình, bà đã nhiều khuyên bảo cho cơ hội nhưng ông H không thay đổi, sau này còn có lời lẽ xúc phạm, chửi mắng bà. Bà đã cố gắng chịu đựng cuộc hôn nhân này gần 30 năm nhưng càng ngày càng mâu thuẫn, ông H không sửa đổi vẫn gây nợ nần cho bà, ông bà hiện đã ly thân bà về nhà cha mẹ ruột sống từ tháng 12/2022 sinh sống đến đến nay.
Quá trình ly thân ông H có đến năn nỉ xin đoàn tụ nhưng bà đã cho cơ hội rất nhiều nhưng ông H không thay đổi nên bà không đồng ý quay về. Bà X cho rằng đời sống hôn nhân mâu thuẫn không hoà hợp, bà đã cố gắng chịu đựng nhưng không thể tiếp tục. Ông H còn thường xuyên đe doạ tính mạng cuộc sống của bà khiến bà rất áp lực, lo sợ khi sống chung với ông H.
Nay về hôn nhân bà X xác định tình cảm không còn, hôn nhân không thể tiếp tục nên yêu cầu ly hôn với ông H.
Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Sầm Lê Đình N, sinh ngày 29/11/1994, hiện con chung đã thành niên nên ông bà không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà X không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông H trình bày: Ông H xác định bà X trình bày đúng về quá trình hôn nhân thời gian chung sống. Ông thừa nhận bản thân có sai khi chửi vợ con, không quan tâm vợ con, hồi xưa ông có gây nợ nhưng đã trả xong. Ông thừa nhận bản thân có nhiều lần chửi vợ khiến vợ buồn muốn ly hôn, nay ông rất hối hận và mong gia đình đoàn tụ, ông cho rằng có gây nợ nhưng đó là thời gian trước xảy ra đã lâu. Ông H thừa nhận vợ chồng có ly thân từ tháng 12/2022 đến nay, vợ về nhà cha mẹ vợ sinh sống ông nhiều lần năn nỉ đoàn tụ nhưng bà X không đồng ý, ông cũng nhiều lần đến chỗ làm của chị X nhưng chị không chịu gặp.
Nay bà X yêu cầu ly hôn, ông không đồng ý ly hôn vì vẫn còn thương vợ không muốn ly hôn.
Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Sầm Lê Đình N, sinh ngày 29/11/1994, hiện con chung đã thành niên nên ông bà không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông H không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ phát biểu ý kiến:
Về trình tự thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tại Tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, không vi phạm về tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự; đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Kim X đối với ông Sầm Văn H.
- Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Bà X phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn, bị đơn ông Sầm Văn H đang cư trú tại số B tổ E, ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về tố tụng: Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định pháp luật Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa xác định bà X và ông H tự nguyện chung sống vào năm 1992 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, được pháp luật bảo vệ.
[3.1] Về hôn nhân: Bà X yêu cầu xin ly hôn với ông H, theo bà X trình bày cuộc sống chung vợ chồng của ông bà không hạnh phúc, thường xuyên cãi vả nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Nguyên nhân chính do ông H không quan tâm gia đình, không lo làm ăn phụ giúp kinh tế còn ham mê cờ bạc, cá độ đá banh, đá gà gây nợ nần gánh nặng cho gia đình, bà đã nhiều khuyên bảo cho cơ hội nhưng ông H không thay đổi, sau này ông H còn có lời lẽ xúc phạm, chửi mắng bà. Bà đã cố gắng chịu đựng cuộc hôn nhân này gần 30 năm nhưng càng ngày càng mâu thuẫn, ông H không sửa đổi vẫn gây nợ nần cho bà, ông bà hiện đã ly thân bà về nhà cha mẹ ruột sống từ tháng 12/2022 sinh sống đến đến nay. Quá trình ly thân ông H có đến năn nỉ xin đoàn tụ nhưng bà đã cho cơ hội rất nhiều nhưng ông H không thay đổi nên bà không đồng ý quay về. Bà X cho rằng đời sống hôn nhân mâu thuẫn không hoà hợp, bà đã cố gắng chịu đựng nhưng không thể tiếp tục. Ông H còn thường xuyên đe doạ tính mạng cuộc sống của bà khiến bà rất áp lực, lo sợ khi sống chung với ông H. Ông H thừa nhận có những sự việc gây nợ, chửi mắng và đe doạ bà X như bà X trình bày do đó có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân của ông bà không hạnh phúc, có mâu thuẫn không thể hoà giải. Việc ông H không đồng ý ly hôn nhưng không có những hành động thiện chí để vợ chồng đoàn tụ mà còn thuờng xuyên đe doạ tính mạng bà X chứng minh ý kiến đoàn tụ không đồng ý ly hôn của ông H không có cơ sở chấp nhận.
Theo công văn trả lời xác minh tại UBND xã L xác định ông H và bà X hiện đang ly thân, bà X chuyển về sống cùng nhà cha mẹ ruột tại tổ H ấp L, xã L, huyện C. Xét thấy từ những căn cứ trên chứng tỏ đời sống chung của ông bà không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà X.
[3.2] Về con chung: Ông bà có con chung 01 con chung tên tên Sầm Lê Đình N, sinh ngày 29/11/1994, hiện con chung đã thành niên nên ông bà không yêu cầu giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về án phí: Bà X phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Về hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Kim X. Bà Lê Thị Kim X và ông Sầm Văn H ly hôn.
- Về con chung: Ông bà có con chung 01 con chung tên tên Sầm Lê Đình N, sinh ngày 29/11/1994, hiện con chung đã thành niên nên ông bà không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí Bà Lê Thị Kim X phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng là tiền tạm ứng án phí mà bà X đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0046161 ngày 01 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh. Ghi nhận bà X đã nộp đủ án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm.
- Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các đương sự có mặt tại Toà được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Quỳnh Như |
Bản án số 30/2023/HNGĐ-ST ngày 24/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 30/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
