Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGỌC LẶC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:30/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Quách Thị Lê

2. Bà Quách Thị Hoàng

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Lê Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:31/2024/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Trương Văn Đ - Sinh ngày 27/3/1992 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; giới tính N; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 8/12; Con ông: Trương Văn Đ1 (đã chết) và bà Bùi Thị H - Sinh năm 1969; Vợ Trần Thị H1 - Sinh năm 1994; Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án; Tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 02/7/2009 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk khởi tố về tội Trộm cắp tài sản, sau đó đình chỉ điều tra miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 25 Bộ luật hình sự năm 1999.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/3/2024 đến ngày 17/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

1. Anh Trương Văn M - Sinh năm: 1987 (Vắng mặt)

2. Chị Bùi Thị H2 - Sinh năm: 1984 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện hợp pháp cho người bị hại: Bà Bùi Thị N1 - Sinh năm: 1965 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng: Chị Trần Thị H1 – Sinh năm 1994 (Có mặt)

Cùng nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trương Văn Đ biết được gia đình anh Trương Văn M ở cùng thôn đi làm ăn xa, không có người ở nhà, nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 19 giờ ngày 06/3/2024, Đ cầm theo 01 chiếc búa tự chế (một đầu là tuốc nơ vít, một đầu là búa) đi bộ đến nhà anh Trương Văn M. Đến nơi, Đ đi vòng ra phía sau nhà, cầm chiếc búa có đầu là tuốc nơ vít cậy làm rách tấm tôn cánh cửa sau nhà rồi thò tay vào mở chốt cửa phía trong. Sau khi mở được cửa, Đ đi vào trong phòng khách bật đèn điện thoại lên quan sát phát hiện chiếc tivi Đ tháo rút dây điện rồi ôm chiếc ti vi ra ngoài theo lối cửa sau, dùng tay chốt cửa lại, Đ ôm chiếc ti vi về nhà cất giấu. Thấy không thể che giấu được, sáng ngày 08/3/2024 Đ đến Công an xã M đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp chiếc ti vi và chiếc tuốc nơ vít, Công an xã đã lập biên bản tiếp nhận để điều tra, xử lý theo quy định.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 15/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: Tổng giá trị tài sản tại thời điểm ngày 06/3/2024 là 2.517.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra thu giữ: 01 chiếc ti vi 40inch, nhãn hiệu SONY, đã qua sử dụng và 01 chiếc búa tự chế màu đen bằng kim loại (một đầu là búa và một đầu là tuốc nơ vít).

Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc ti vi 40 inch, nhãn hiệu SONY sau khi định giá tài sản và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng. Đối với chiếc búa tự chế là công cụ phạm tội, chuyển đến Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc để xét xử và thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

2

Bản cáo trạng số 35/CT-VKS - NL ngày 28/5/2024 của VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Trương Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Trương Văn Đ từ 07 (bảy) đến 13 (mười ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/3/2024 đến ngày 17/3/2024.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên đề nghị không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: 01 chiếc ti vi 40inch, nhãn hiệu SONY, đã qua sử dụng Cơ quan CSĐT đã trả lại tài sản cho người bị hại nên đề nghị không xem xét.

Đối với chiếc búa tự chế bằng kim loại màu đen, dài 30cm, có một đầu búa hình trụ đường kính 3cm, một đầu nhọn là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thống nhất với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời trình bày của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19h ngày 06/3/2024 Trương Văn Đ đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc ti vi 40 inch, nhãn hiệu SONY của gia đình anh Trương Văn M, ở thôn M, xã M, huyện N, tài sản có trị giá là 2.517.000 đồng, cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

3

[3] Về tính chất, hành vi phạm tội: Đây là vụ án trộm cắp tài sản có tính chất ít nghiêm trọng do Trương Văn Đ thực hiện. Tuy nhiên hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an, xã hội trên địa bàn.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có 05 tình tiết giảm nhẹ đó là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, bị cáo được gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo là người có nhân thân xấu đó là; Ngày 02/7/2009 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk khởi tố về tội Trộm cắp tài sản, sau đó đình chỉ điều tra miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 25 Bộ luật hình sự năm 1999.

Căn cứ vào các tình tiết nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần lên cho bị cáo mức án phù hợp, tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm, cải tạo thành người công dân tốt có ích cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp chiếc ti vi 40 inch, nhãn hiệu SONY, người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

Chiếc ti vi 40 inch, nhãn hiệu SONY Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại cho bị hại nên HĐXX không xem xét.

Chiếc búa tự chế bằng kim loại màu đen, dài 30cm, có một đầu búa hình trụ đường kính 3cm, một đầu nhọn là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trương Văn Đ.

- Tuyên bố: Trương Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

4

- Xử phạt: T1 (bảy) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/3/2024 đến ngày 17/3/2024.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy chiếc búa tự chế bằng kim loại màu đen, dài 30cm, có một đầu búa hình trụ đường kính 3cm, một đầu nhọn.

Hiện vật chứng, tài sản đang được nhập kho Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa theo phiếu nhập kho và lệnh nhập kho số NK 2024/037 ngày 28/5/2024.

- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Trương Văn Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và đại diện hợp pháp cho người bị hại, vắng mặt người bị hại tại phiên tòa. Tuyên bố bị cáo và đại diện hợp pháp cho người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Đại diện hợp pháp cho người bị hại;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Lặc;
  • - Cơ quan THAHS huyện Ngọc Lặc;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS huyện Ngọc Lặc;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Xuân Thành

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự về tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger