Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

--------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------

Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24/5/2024

V/v: “Kiện ly hôn,

tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Vũ Thị Hòa;
  2. Ông Hoàng Văn Ngân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 254/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXX-ST ngày 03 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hù Khủ K - Sinh năm 1989

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã H, thành phố L, tỉnh Lào Cai;

Nơi ở: Thôn N, xã L, thị xã S, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”

2. Bị đơn: Anh Ngô Thế S - Sinh năm 1982

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn B, xã H, thành phố L, tỉnh Lào Cai “Vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hù Khủ K trình bày:

Về hôn nhân: Chị Hù Khủ K và anh Ngô Thế S kết hôn vào ngày 17/12/2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi chửi nhau, đánh nhau, anh S thường xuyên chửi bới, đánh đập chị K. Cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, anh S thường xuyên đi chơi bời, không quan tâm gì đến vợ con, không cùng chị K xây dựng kinh tế gia đình. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng xảy ra trong thời gian dài. Từ tháng 3/2022 vợ chồng đã sống ly thân nhau không quan tâm đến nhau, chị K về nhà bố mẹ ở thôn N, xã L, thị xã S, tỉnh Lào Cai sinh sống. Đến nay chị K thấy không còn tình cảm với anh S nữa nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Thế S.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 người con chung là cháu Ngô Thị P, sinh ngày 27/10/2010 và cháu Ngô Quốc V, sinh ngày 23/7/2017. Hiện nay hai cháu đang ở cùng với anh S tại thôn B, xã H, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Đến nay chị K đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con như thế nào cũng được chị có thể nuôi cả hai cháu, hoặc nuôi một cháu và cũng có thể để cho anh S nuôi cả hai cháu cũng được. Hiện nay chị K ở cùng với bố mẹ, làm công việc làm thuê, ai thuê gì làm lấy thu nhập không ổn định khoảng 3.000.000 đồng/tháng, còn anh S cũng làm thuê thu nhập bao nhiêu chị K không biết. Nếu anh sự nuôi dưỡng cả hai cháu chị K cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho mỗi cháu là 750.000 đồng/tháng

Về tài sản chung: Chị Hù Khủ K không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Ngô Thế S: Sau khi Toà án thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt, niêm yết đầy đủ các giấy tờ tố tụng của Toà án cho anh Ngô Thế S nhưng anh Ngô Thế S không có văn bản trả lời, cũng không đến toà án làm bản tự khai, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ, đúng quy định. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng quy định pháp luật. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử cho chị H Khủ Khá được ly hôn anh Ngô Thế S; Về con chung giao cháu Ngô Thị P và cháu Ngô Quốc V cho anh S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, chị K cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh Ngô Thế S cho mỗi cháu 750.000 đồng/tháng. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng, thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Về tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại điều khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Hù Khủ K và anh Ngô Thế S đăng ký kết hôn ngày 17 tháng 12 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố L, tỉnh Lào Cai trên cơ sở kết hôn tự nguyện, do vậy hôn nhân giữa chị K và anh S là hôn nhân hợp pháp. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng chung sống không hòa thuận hạnh phúc, từ tháng 3 năm 2022 vợ chồng đã sống ly thân, chị K về nhà bố mẹ ở thôn N, xã L, thị xã S, tỉnh Lào Cai sinh sống, anh S cùng các con sinh sống tại thôn B, xã H, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Tại biên bản xác minh ngày ngày 04/4/2024 địa phương đã xác nhận hai vợ chồng chị K, anh S có mâu thuẫn, đánh nhau, chị K đã bỏ nhà đi được gần 02 năm, không thấy chị K quay trở về. Như vậy tình cảm vợ chồng giữa chị K và anh S đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hù K1 Khá đối với anh Ngô Thế S.

[2.2] Về con chung: Xét việc giao nuôi con thì thấy rằng chị Hù K1 K và anh Ngô Thế S có 02 người con chung là cháu Ngô Thị P, sinh ngày 27/10/2010 và cháu Ngô Quốc V, sinh ngày 23/7/2017, chị Hù K1 Khá đề nghị Toà án giải quyết việc giao nuôi con như thế nào cũng được chị có thể nuôi cả hai cháu, hoặc nuôi một cháu và cũng có thể để cho anh S nuôi cả hai cháu cũng được. Anh Ngô Thế S không đến Tòa án cũng không có văn ghi ý kiến của mình về việc ly hôn và giao nuôi con, tuy nhiên tại biên bản xác minh ngày 04/4/2024 thì hiện tại cháu P và cháu V đang sinh sống cùng anh Ngô Thế S, việc chăm sóc nuôi dưỡng cho các cháu đi học được bảo đảm, từ ngày chị K bỏ nhà đi không thấy chị K đến thăm nom, chăm sóc các cháu, cháu Ngô Thị P có nguyện vọng được ở cùng bố. Vì vậy căn cứ điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao cho anh S được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các cháu là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hù Khủ K khai hiện nay chị K ở cùng với bố mẹ, làm công việc làm thuê, ai thuê gì làm lấy thu nhập không ổn định khoảng 3.000.000 đồng/tháng, còn anh S cũng làm thuê thu nhập bao nhiêu chị K không biết. Tòa án đã yêu cầu chị K cung cấp cho Tòa án chứng cứ chứng minh về thu nhập của chị K nhưng chị K không cung cấp được vì vậy căn cứ lời khai của chị K xác định chị K có mức thu nhập là 3.000.000 đồng/tháng. Tại biên bản xác minh ngày 04/4/2024 anh S có nhà ở tại thôn B, anh S là người lao động chăm chỉ, ai thuê công việc gì làm công việc đó, không xác định được thu nhập của anh S là bao nhiêu. Chị K nhất trí cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho mỗi cháu là 750.000 đồng/tháng. Để đảm bảo quyền lợi cho các cháu buộc chị H Khủ K phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho mỗi cháu 750.000 đồng/tháng là phù hợp

[2.4] Về tài sản chung: Chị Hù Khủ K không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Chị Hù Khủ K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn và 300.000 đồng tiền án phí việc cấp dưỡng nuôi con.

Từ những nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hù K1 Khá.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hù Khủ K và anh Ngô Thế S. Quan hệ hôn nhân của chị Hù K1 Khá và anh Ngô Thế S được chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cháu Ngô Thị P, sinh ngày 27/10/2010 và cháu Ngô Quốc V, sinh ngày 23/7/2017 cho anh Ngô Thế S trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Hù Khủ K phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh S cho mỗi cháu là 750.000 đồng (B trăm năm mươi nghìn đồng)/tháng, cả hai cháu là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Hù Khủ K có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.

Kể từ ngày anh Ngô Thế S có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền cấp dưỡng nuôi con, hàng tháng chị Hù K1 Khá phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Về án phí: Chị Hù Khủ K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. Xác nhận chị K đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000266 ngày 18/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai được trừ vào tiền án phí phải nộp.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh; TP
  • - Các đương sự;
  • - THADS;
  • - UBND xã Hợp Thành, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
  • - Lưu.

TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà





Nguyễn Thị Tuyết Lanh

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ kiện "Ly hôn" giữa chị Hù Khủ K và anh Ngô Thế S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger