TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/DS-ST Ngày 24 tháng 5 năm 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng, vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng, ông Huỳnh Văn Tâm.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Diễm My, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 279/2023/TLST- DS ngày 07/12/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P; địa chỉ: số D (tầng trệt, tầng lửng, lầu 1, lầu 2 của tòa nhà) và số D, đường L, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo ủy quyền của của nguyên đơn: Ông Đỗ Duy K, chức vụ: Chuyên viên thu hồi nợ; địa chỉ: Số A đường T, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Trường A, sinh năm: 1979, nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 29/5/2021, bà A có ký kết hợp đồng tín dụng số TDCN21000841/2021/HĐTD-OCB-CN với Ngân hàng P – Chi nhánh A1 – Phòng G (sau đây viết tắt là Ngân hàng) để vay số tiền 1.600.000.000 đồng. Mục đích vay: Tiêu dùng; thời hạn vay: 60 tháng được tính kể từ ngày 31/5/2021 đến ngày 31/5/2026. Lãi suất cho vay trong hạn 11,5%/năm cố định trong 03 tháng đầu; từ tháng thứ 4 bằng lãi suất tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 13 tháng trả lãi cuối kỳ do OCB công bố + biên độ tối thiểu 3,9%/năm. Lãi suất quán hạn 150% lãi suất trong hạn.
Để đảm bảo hợp đồng, bà A có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TDCN21000841 ngày 29/5/2021 về việc thế chấp quyền sử dụng đất số H.02338 với diện tích 63,3m², đất tọa lạc phường N, thành phố C và quyền sử dụng đất số H.02370fE với diện tích 201,5m² tọa lạc phường N, thành phố C.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà A không thực hiện đúng cam kết việc trả nợ gốc, lãi đúng hạn cho Ngân hàng. Đến ngày 04/11/2023 còn nợ số tiền gốc, tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn là 891.905.117 đồng (trong đó, nợ gốc 870.755.151 đồng; nợ tiền lãi từ ngày là 21.149.966 đồng). Quá trình giải quyết vụ án bị đơn có thanh toán cho nguyên đơn một phần tiền gốc và lãi.
Do đó Ngân hàng yêu cầu tiếp tục trả số tiền vốn, lãi còn lại tạm tính đến 24/5/2024 số tiền 692.905.534 đồng (trong đó vốn gốc 682.000.000 đồng, lãi 10.905.534 đồng). Đồng thời, còn phải trả lãi phát sinh từ ngày 25/5/2024 với lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả dứt nợ cho Ngân hàng và tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Trường A trình bày: Bà có nhận được các văn bản do Tòa án tống đạt, bà thống nhất về việc có vay của Ngân hàng như Ngân hàng khởi kiện, tuy nhiên do bị bệnh nên không đến Tòa án.
Tòa án tiến hành mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà A vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa,
- Đại diện Ngân hàng trình bày: Yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 24/5/2024 số tiền 692.905.534 đồng (trong đó vốn gốc 682.000.000 đồng, lãi 10.905.534 đồng). Tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 25/5/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận quy định trong các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp bị đơn không có khả năng trả nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
- Ý kiến của Kiểm sát viên:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán xác định thẩm quyền; thụ lý quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ đúng theo quy định. Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định. Đương sự chấp hành đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên đảm bảo được quyền, nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng lần thứ hai không có lý do nên thuộc trường hợp xét xử vắng mặt bị đơn.
Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà A trả nợ số tiền vốn, lãi tính đến ngày 24/5/2024 số tiền 692.905.534 đồng (trong đó vốn gốc 682.000.000 đồng, lãi 10.905.534 đồng), tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 25/5/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận quy định trong các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong là có căn cứ. Đối với việc Ngân hàng yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp trên để đảm bảo thi hành án, thấy rằng khi bản án có hiệu lực pháp luật mà bà A không trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền nợ của Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản để thu hồi nợ.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
[1] Thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn có nơi cư trú tại thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm g khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (BLTTDS).
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
Về nội dung:
[3] Về tiền vốn vay và tiền lãi: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà A trả nợ theo hợp đồng tín dụng số TDCN21000841/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 29/5/2021.
Xét, hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng với bà A được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
Căn cứ Hợp đồng tín dụng; Bảng kê của Ngân hàng; ý kiến của bị đơn trong biên bản xem xét thẩm định tại chỗ; cùng các tài liệu do nguyên đơn cung cấp có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định vốn vay 1.600.000.000 đồng đã trả số tiền gốc, lãi tạm tính đến ngày 04/4/2024 là 1.392.932.566 đồng còn lại vốn, lãi tính từ ngày 05/4/2024 đến ngày 24/5/2024 số tiền 692.905.534 đồng (trong đó vốn gốc 682.000.000 đồng, lãi 10.905.534 đồng).
Do đó, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà A trả nợ là phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng, xét chấp nhận.
“Kể từ ngày 25/5/2024, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.
[4] Về hợp đồng thế chấp:
Để đảm bảo khoản vay, bà A có thế chấp các quyền sử dụng đất theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TDCN21000841 ngày 29/5/2021 để thế chấp quyền sử dụng đất số H.02338 với diện tích 63,3m², quyền sử dụng đất số H.02370fE với diện tích 201,5m² các phần đất thế chấp tọa lạc phường N, thành phố C.
Xét thấy hợp đồng thế chấp được các bên tự nguyện ký kết, có công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm là đúng quy định của pháp luật. Do đó, trong trường hợp bị đơn không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ là đúng quy định pháp luật.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:
- Ngân hàng được chấp nhận yêu cầu kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí cho Ngân hàng.
- Bị đơn có trách nhiệm trả vốn và lãi cho Ngân hàng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 31.716.000 đồng.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 91, khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Điều 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P.
Buộc bà Nguyễn Thị Trường A trả cho Ngân hàng số tiền là 692.905.534 đồng (trong đó, nợ gốc 682.000.000 đồng; nợ tiền lãi từ ngày 05/4/2024 đến ngày 24/5/2024 là 10.905.534 đồng).
“Kể từ ngày 25/5/2024, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.
Trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất số H.02338 với diện tích 63,3m² và quyền sử dụng đất số H.02370fE với diện tích 201,5m² tọa lạc phường N, thành phố C theo hợp đồng thế chấp số TDCN21000841 ngày 29/5/2021 giữa Ngân hàng P với bà A để thu hồi nợ.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà A phải chịu án phí số tiền 31.716.000 đồng.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng P số tiền 19.379.000 (Mười chín triệu, ba trăm bảy chín nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai 0003072 ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.
Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đại diện nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bị đơn vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Phương |
Bản án số 30/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, vay tài sản
- Số bản án: 30/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Phương Đông
