TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/HSST Ngày 24-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Phú Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Hương; bà Nguyễn Thị Mùa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh – Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tham gia phiên tòa:
Ông Mai Phi Hùng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐ-XX ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/HSST-QĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trọng H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1993, tại Bình Phước; nơi cư trú: Ấp E, xã H, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ) và bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1975, bị cáo có vợ là bà Nguyễn Thị Hiếu T1, sinh năm 1995 và 02 người con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không; ngày 30 tháng 01 năm 2024, thực hiện hành vi vận chuyển hàng cấm, ngày 02 tháng 02 năm 2024 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện B ra Quyết định khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hoàng T2, sinh năm 2002; cư trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (có mặt).
Người chứng kiến: Ông Phạm Văn T3, sinh năm 2001; cư trú: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 30 tháng 01 năm 2024, Nguyễn Trọng H điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại FUTURE biển kiểm soát 93G1-350.88 đi bẫy chim tại lô cao su thuộc ấp E, xã H, huyện B, tỉnh Bình Phước thì gặp một đối tượng không rõ nhân thân lai lịch, đối tượng này hỏi có chở hàng thuê không, Huy hỏi lại hàng gì thì đối tượng này trả lời là pháo và H đồng ý chở thuê. Sau đó hai bên thỏa thuận là H vận chuyển pháo đến khu vực ngã ba Chợ mới P, thị xã P, tỉnh Bình Phước với tiền công 500.000 đồng, khi đến nơi sẽ có người đến nhận pháo. Sau đó, đối tượng này lấy 03 bệ pháo hoa loại 49 ống/bệ, 01 bệ pháo hoa loại 100 ống/bệ để lên gác baga xe mô tô hiệu Honda loại FUTURE biển kiểm soát 93G1-350.88 và đưa cho H 500.000 đồng tiền công, H cầm lấy rồi điều khiển xe mô tô vận chuyển đến địa điểm như đã thỏa thuận để giao pháo. Khi đến đoạn đường ĐT759 thuộc thôn B, xã P, huyện B thì bị lực lượng Công an phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật, gồm: 01 xe mô tô hiệu Honda loại FUTURE biển kiểm soát 93G1-350.88; 03 khối hình hộp chữ nhật, bên trong mỗi khối chứa 49 ống hình trụ tròn kết với nhau thành dàn và 01 khối hình hộp chữ nhật, bên trong chứa 100 ống hình trụ tròn kết với nhau thành dàn, trên bao bì có ghi chữ nước ngoài, không có tem nhãn nhập khẩu theo quy định, không có hóa đơn chứng từ (sau khi thu giữ đã niêm phong trong 01 thùng giấy cattong).
Theo Kết luận giám định số 205, ngày 02 tháng 2 năm 2024 của Phòng K, Công an tỉnh B thì:
- - 03 (ba) khối hình hộp có ký hiệu là M1 được niêm phong gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao thì nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 5,0kg.
- - 01 (một) khối hình hộp có ký hiệu là M2 được niêm phong gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao thì nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 3,1kg.
Mẫu vật (M1, M2) đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô hiệu Honda loại FUTURE biển kiểm soát 93G1-350.88 là của ông Nguyễn Hoàng T2 cho Nguyễn Trọng H mượn để đi bẫy chim, sau đó H đã sử dụng xe để vận chuyển hàng cấm nhưng ông T2 không biết, do đó cần trả lại xe cho ông T2.
Đối với số tiền 500.000 đồng do Nguyễn Trọng H phạm tội mà có, H đã tiêu xài hết do đó không thu hồi được.
Tại bản cáo trạng số 25/CTr-VKSBGM ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Trọng H về tội “vận chuyển hàng cấm” điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập vẫn giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo H mức án từ 09-12 tháng tù, cho hưởng án treo;
thời gian thử thách từ 18-24 tháng. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập còn đề nghị xử lý vật chứng vụ án.
Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Trọng H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng số 25/CTr-VKSBGM ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập đã truy tố.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, cách thức thực hiện tội phạm, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Do hám lợi nên ngày 30 tháng 01 năm 2024, bị cáo Nguyễn Trọng H đã vận chuyển 8,1 kg pháo hoa nổ cho một đối tượng không rõ nhân thân lai lịch từ huyện B đến thị xã P với tiền công 500.000 đồng. Khi bị cáo H vận chuyển đến thôn B, xã P, huyện B thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[4] Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi nhận thuê và vận chuyển pháo hoa nổ cho người khác để có tiền tiêu xài là vi phạm pháp luật, khi bị phát hiện sẽ bị pháp luật nghiêm trị, nhưng vì động cơ tư lợi mà bị cáo đã phạm tội. Xét tính chất, mức độ mà hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định về quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu hành. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố bị cáo về tội “vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo có ông ngoại là người được Nhà nước phong tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên cần xem xét khi lượng hình.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
[7] Đối với đối tượng đã thuê bị cáo vận chuyển pháo hoa nổ, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch. Do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở để xử lý.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với vật chứng là 8,1kg pháo hoa nổ đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với xe mô tô hiệu Honda loại FUTURE biển kiểm soát 93G1-350.88 là của ông Nguyễn Hoàng T2 cho bị cáo H mượn để đi bẫy chim, sau đó bị cáo đã sử dụng xe này để vận chuyển hàng cấm nhưng ông T2 không biết, do đó cần trả lại xe mô tô nêu trên cho ông T2.
Đối với số tiền 500.000 đồng do đối tượng không rõ nhân thân lai lịch trả tiền công chở thuê cho bị cáo H, bị cáo đã tiêu xài hết nên cần truy thu đối với số tiền này để nộp ngân sách Nhà nước.
[9] Đối với lời phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tại phiên tòa, Hội đồng xét thấy có cơ sở nên được chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng H (tên gọi khác: Không) phạm tội “vận chuyển hàng cấm”.
2. Về hình phạt chính:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, 2; Điều 51; Điều 50; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.
Tuyên giao bị cáo cho UBND xã H, huyện B, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
4. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên trả lại 01 xe mô tô hiệu Honda loại FUTURE biển kiểm soát 93G1-350.88, màu xanh cho ông Nguyễn Hoàng T2.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0008889; Quyển số 0178; Ký hiệu D47/2017 ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập).
Buộc bị cáo Nguyễn Trọng H phải nộp lại số tiền 500.000 đồng để truy thu, nộp ngân sách Nhà nước.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Trọng H phải chịu 200.000 đồng.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VĂN PHÚ VINH |
Bản án số 30/2024/HSST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về vận chuyển hàng cấm (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 30/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Huy phạm tội "vận chuyển hàng cấm"
