|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/HS-ST
Ngày 24 - 4 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hà Chí Thanh.
Bà Mùa Thị Mỷ.
- Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Dục – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà: Bà Phạm Thanh Loan - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La:
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Hải - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn O (tên gọi khác: không), sinh ngày 07 tháng 5 năm 1991 tại: huyện T, tỉnh Sơn La.
Nơi cư trú: Bản H, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La; Nơi ở hiện nay: Bản H, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 07/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn S (đã chết) và bà Tòng Thị B; bị cáo chưa có vợ con. Bị cáo có 11 anh chị em, là con thứ 11 trong gia đình.
Tiền án: không, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 00 giờ 10 phút ngày 19/12/2023, Công an xã Phiêng Khoài phối hợp với Đồn Biên phòng Chiềng On tiến hành tuần tra trên quốc lộ 6C tại bản Kim Chung 3, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu phát hiện 01 xe máy do Đinh Văn H sinh năm 1988, trú tại bản M, xã L, huyện Yên Châu điều khiển có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện người ngồi phía sau là Lường Văn O sinh năm 1991, trú tại: Bản Huổi Sai, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình làm việc thu giữ 01 gói nilon màu đỏ bên trong có chứa chất bột màu trắng, do O tự giác lấy trong cạp quần đang mặc trên người giao nộp và khai nhận đây là Heroine O mua về với mục đích sử dụng do bản thân nghiện ma túy. O xin đi nhờ xe của H nên H không biết, không chứng kiến việc mua bán, tàng trữ ma túy của O. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng bao gồm: 01 gói nilon màu đỏ bên trong có các cục bột màu trắng nghi là Her On, 01 xe máy Kwashaki màu sơn vàng, biển kiểm soát 74FD – 4444, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S màu tím, màn hình bị vỡ.
Ngày 19/12/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu phối hợp với phòng PC 09 Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong xác định: Các cục bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Lường Văn O có khối có khối lượng 0,36 gam, trích rút 0,09 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu O. Số vật chứng còn lại ký hiệu K = 0,27 gam nhập kho vật chứng.
Tại Kết luận giám định số 39 ngày 19/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu O là ma túy; loại Her One; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,36 gam; loại Her One”.
Quá trình điều tra Lường Văn O khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 18/12/2023 Lường Văn O sử dụng số điện thoại 0378.686.xxx gọi đến số điện thoại 0365.346.xxx của Đinh Văn H, sinh năm 1988, trú tại bản M, L, Yên Châu rủ H đi đến bản Kim Chung 1, xã Phiêng Khoài uống nước, H đồng ý. Đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô màu vàng, biển kiểm soát 74FD - 4444 đi từ nhà đến bản Huổi Sai, xã Phiêng Khoài đón O rồi chở O đến bản Kim Chung 1, xã Phiêng Khoài. Khi đến Phiêng Khoài quán nước đã đóng cửa nên O và H dừng lại ở ven đường nói chuyện. Do say rượu, O nảy sinh ý định đi mua ma túy để sử dụng nên O hỏi vay H số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Khi vay, O không nói cho H biết lý do vay tiền, H cũng không hỏi O vay tiền để làm gì, H đồng ý. Nhận tiền xong, O đưa chiếc điện thoại OPPO A3s màu tím, màn hình đã bị vỡ của mình cho H để làm tin rồi tiếp tục đề nghị H cho mượn xe mô tô biển kiểm soát 74FD – 4444 để đi có việc riêng, H đồng ý. O bảo H đứng đợi ở bản Kim Chung 1 rồi một mình điều khiển xe đi qua bản Lao Khô 2, xã Phiêng Khoài đến khu vực giáp biên giới Việt Nam - Lào để tìm mua ma túy. Tại đây, O gặp một người đàn ông dân tộc Mông, quốc tịch Lào không rõ nhân thân đang đi bộ ngược chiều rồi thỏa thuận mua được của người này một gói nilon màu đỏ, bên trong có chứa Heroine với giá tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). O nhận gói Heroine rồi điều khiển xe quay về. Đi được khoảng 100m, O dừng xe lấy một ít Heroine vừa mua được ra sử dụng bằng hình thức đốt hít tại ven đường. Số ma túy còn lại, O gói lại vào mảnh nilon ban đầu rồi cất giấu vào trong cạp quần đang mặc và tiếp tục điều khiển xe quay về. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, O điều khiển xe đến chỗ H rồi rủ H về nhà. H hỏi O đi đâu về nhưng O bảo đi có việc nên H không hỏi gì thêm mà điều khiển xe chở O ngồi sau đi từ bản Kim Chung 1 về hướng xã L. Khi H chở O đi đến bản Kim Chung 3, xã Phiêng Khoài thì bị tổ công tác Công an xã Phiêng Khoài dừng xe kiểm tra. O tự giác lấy ma túy cất giấu trong cạp quần đang mặc trên người giao nộp. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKSYC ngày 25/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Châu để xét xử bị cáo Lường Văn O về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Đối với Đinh Văn H quá trình điều tra xác định H không biết việc Lường Văn O dùng tiền đi mua ma túy, không biết việc O cất giấu ma túy trong người nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý. Đối với số tiền đã cho O vay, H không có yêu cầu hay đề nghị gì.
Đối với xe mô tô BKS 74FD – 4444 của Đinh Văn H, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên H mua lại của một cửa hàng xe tại quận Nam Từ Liêm – Hà Nội, quá trình đi cùng O, H không biết việc O sử dụng phương tiện của mình để đi mua ma túy, cũng như không biết việc mua bán, tàng trữ ma túy của O. Ngày 30/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Đinh Văn H.
Tại phiên tòa bị cáo bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, thống nhất với lời khai nhận trong quá trình điều tra, truy tố.
Tại phiên toà kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lường Văn O phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, Điểm a, c khoản 2, điểm a,b khoản 3 Điều 106 BLTTHS 2015 tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại và vật chứng liên quan bao gồm: 01 (Một) phong bì niêm phong dán kín, mặt trước ghi: “Vật chứng vụ: Lường Văn O, tàng trữ trái phép chất ma tuý xảy ra ngày 19/12/2023 tại bản Kim Chung 3, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu. Niêm phong ngày 19 tháng 12 năm 2023 tại phòng PC 09 Công an tỉnh Sơn La. Gồm có: 01 (Một) mảnh nilon màu đỏ, 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mẫu K = 0,27 gam”. Mặt sau tại mép dán có dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La, số sêri 0022336, tại mép dán có chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong cùng người bị bắt kèm theo 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S màu tím, màn hình bị vỡ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nhưng được miễn theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với Bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Châu, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc k H nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
[2] Về tình tiết định tội định khung hình phạt:
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Châu, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 19/12/2024, biên bản niêm phong vật chứng ngày 19/12/2024, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 19/12/2024, Kết luận giám định số 39/KL-KLHS ngày 19/12/2024, các biên bản ghi lời khai nhận của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội, biên bản lấy lời khai của người làm chứng, và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 18/12/2024 bị cáo Lường Văn O có hành vi mua ma túy với giá 300.000₫ và cất giấu trong cạp quần đang mặc trên người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện và bắt giữ, tổng khối lượng ma tuý bị thu giữ là 0,36g, loại chất Her On. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức phạt tù từ 01 đến 05 năm.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu truy tố và Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xét xử bị cáo Lường Văn O là chính xác, đúng người, đúng tội, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, không oan sai cho bị cáo. Tại thời điểm thực hiện hành vi của mình bị cáo đã có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng sức khỏe con người, suy kiệt nòi giống, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác như trộm cắp, cướp của, giết người.. Nên cần xử lý nghiêm bị cáo bằng hình phạt tương xứng để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Song để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho nhu cầu nghiện hút ma túy của mình.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Không có tiền án, tiền sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết pháp luật, nhưng do nghiện ma túy c O thường pháp luật, biết việc mua bán và tàng trữ, sử dụng ma túy là hành vi bị nhà nước nghiêm cấm nhưng vì nhu cầu cá nhân bị cáo vẫn có hành vi sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, tiền sự của bị cáo, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để có mức án phù hợp, tương xứng, nhằm nghiêm khắc trừng phạt, cải tạo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, đồng thời răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy tại địa phương.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 quy định, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000₫ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị lớn, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Đối với số ma tuý và vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì niêm phong ngày 19 tháng 12 năm 2023 tại phòng PC 09 Công an tỉnh Sơn La, bên trong gồm có: 01 (Một) mảnh nilon màu đỏ, 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mẫu K = 0,27 gam”. Mặt sau tại mép dán có dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La, số sêri 0022336, xét thấy đây là những vật cấm tàng trữ và không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 phong bì niêm phong bì niêm phong, mắt trước ghi: “Vật chứng vụ: Lường Văn O, tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 19/12/2023. Niêm phong ngày 20/12/2023 tại Công an huyện Yên Châu. Gồm có: 01 điện thoại di động” mặt sau có dán giấy niêm phong do Công an tỉnh Sơn La phát hành số 070727, tại mép dán có chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong cùng người bị bắt kèm theo 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu. Xét thấy chiếc điện thoại của bị cáo là vật chứng không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lường Văn O, O khai nhận không biết tên, tuổi, địa chỉ, việc mua bán ma túy diễn ra tại khu vực biên giới Việt Nam - Lào, chỉ có O và người đàn ông đó biết nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu không có căn cứ xác minh làm rõ.
Đối với Đinh Văn H quá trình điều tra xác định H không biết việc Lường Văn O dùng tiền đi mua ma túy, không biết việc O cất giấu ma túy trong người nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là có căn cứ. Đối với số tiền đã cho O vay, do H không có yêu cầu đề nghị gì nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Đối với xe mô tô BKS 74FD – 4444 của Đinh Văn H, trong quá trình đi cùng O, H không biết việc O mượn và sử dụng phương tiện của mình để đi mua ma túy, cũng như không biết việc mua bán, tàng trữ ma túy của O. Việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Đinh Văn H là đúng quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí HSST theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo dưới 45 ngày, cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 BLTTHS 2015.
[11] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn O phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lường Văn O 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a,b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định, và các vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì niêm phong ngày 19 tháng 12 năm 2023 bên trong gồm có: 01 (Một) mảnh nilon màu đỏ, 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mẫu K = 0,27 gam. Mặt sau tại mép dán có dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La, số sêri 0022336.
Trả lại cho bị cáo Lường Văn O 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S màu tím, màn hình bị vỡ, điện thoại đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 30/BB-CCTHADS ngày 28/3/2024 giữa Công an huyện Yên Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn O.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 24/04/2024./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Thị Thanh Huyền |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lường Văn O phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
