|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST
Ngày 24/01/2025
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Kha
Ông Nguyễn Văn Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 24/01/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 281/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/10/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 297/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/11/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 233/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25/12/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Lan A, sinh năm 1991 (xin vắng mặt)
HKTT: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Nơi ở hiện nay: P, S, K, S1
- Người đại diện nhận văn bản tố tụng của chị Lan A: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1991; địa chỉ: thôn N, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Bị đơn: Anh Lê Văn C, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú cuối cùng của anh C tại Việt Nam: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Anh C hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1972 (xin vắng mặt)
1
Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Phạm Thị Lan A trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn C kết hôn với nhau ngày 04/10/2016, việc kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND UBND xã T, huyện L. Thời gian đầu mới kết hôn, do anh C đi lao động tại Ba Lan, mặc dù thời gian sống chung không nhiều nhưng vợ chồng vẫn hạnh phúc và hòa thuận. Đến năm 2018 do anh C vẫn sống và làm việc tại nước ngoài dẫn đến vợ chồng không có sự gần gũi, chia sẻ. Do đó vợ chồng đã thường xuyên phát sinh mâu thuẫn với nhau về mọi mặt trong cuộc sống, từ quan điểm sống, đến chăm sóc con cái. Mặc dù sau đó vợ chồng đã cố gắng nói chuyện hoà giải, tìm tiếng nói chung, hàn gắn tình cảm nhưng mâu thuẫn không được hòa giải mà ngày càng trầm trọng hơn. Đến năm 2020, chị đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa Séc, kể từ đó vợ chồng không còn hỏi han, quan tâm, chăm sóc gì đến nhau, tình cảm vợ chồng đã rạn nứt đến mức không thể hàn gắn được. Từ tháng 05/2023 đến nay, vợ chồng đã hoàn toàn cắt đứt liên lạc với nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Lê Văn C được ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Đức A1, sinh ngày 25/06/2017. Hiện nay cháu A1 đang sinh sống ở Việt Nam cùng ông ngoại Phạm Văn H1. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu A1 cho chị nuôi dưỡng và tạm giao cháu Lê Đức A1 cho ông Phạm Văn H1 thay chị chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian chị ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là anh Lê Văn C hiện đang ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh C đến nay không nhận được thông tin của anh C.
Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua bố đẻ của anh C là ông Lê Văn H2, sinh năm 1961; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, ông có ý kiến trình bày như sau: ông là bố đẻ của anh Lê Văn C, anh C hiện đang làm việc tại Ba Lan. Ông vẫn thường xuyên liên hệ với anh C qua điện thoại nhưng không biết địa chỉ của anh C ở nước ngoài. Về việc ly hôn của chị Lan A và anh C thì ông không được biết, ông không biết tình trạng vợ chồng anh C, chị Lan A cũng chưa về làm dâu nhà ông ngày nào nên ông từ chối việc thông báo cho anh C. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Ông Phạm Văn H1 trình bày: Ông là bố đẻ của chị Phạm Thị Lan A, việc chị Lan A và anh C giải quyết ly hôn thì ông không can thiệp. Vợ chồng chị Lan
2
A và anh C có 01 con chung là cháu Lê Đức A1, sinh ngày 25/06/2017 hiện nay cháu đang sinh sống cùng ông. Ông đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của chị Lan A, giao cháu Lê Đức A1 cho chị Lan A nuôi dưỡng. Đồng thời ông đồng ý và đề nghị Tòa án tạm giao cháu A1 cho ông chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian chị Lan A ở nước ngoài. Về việc cấp dưỡng nuôi các cháu gia đình sẽ tự thống nhất nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Cháu Lê Đức A1 trình bày hiện nay đang ở cùng ông ngoại, bố mẹ cháu đi nước ngoài không có nhà. Nếu bố mẹ ly hôn các cháu có nguyện vọng được ở cùng mẹ và tiếp tục ở với ông ngoại.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Lan A và ông H1 xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh C vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Lan A. Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Lan A được ly hôn anh Lê Văn C.
Về con chung: Giao cháu Lê Đức A1 cho chị Lan A trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục nhưng tạm giao cho ông Phạm Văn H1 nuôi dưỡng trong thời gian chị Lan A ở nước ngoài. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: chị Phạm Thị Lan A phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
3
[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phạm Thị Lan A đang sinh sống tại nước ngoài có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với anh Lê Văn C. Bị đơn anh Lê Văn C có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 28277/QLXNC ngày 28/11/2024 của Cục Q - Bộ C1 thì anh Lê Văn C đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 19/10/2016, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị Lan A và ông H1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với ông Lê Văn H2 là bố đẻ của anh C xác định hiện anh C đang ở nước ngoài nhưng ông không biết địa chỉ cụ thể của anh C ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh C theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Lan A và anh Lê Văn C kết hôn với nhau ngày 04/10/2016 tại UBND xã T, huyện L, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị Lan A xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh C. Xem xét đơn khởi kiện của chị Lan A, HĐXX thấy: Đến nay chị Lan A và anh C đã không còn quan tâm gì nhau, không còn liên lạc với nhau, vợ chồng xa cách, chị Lan A xác định không còn tình cảm và vợ chồng đã ly thân. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Lan A và anh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lan A, xử cho chị Lan A được ly hôn với anh C.
[4]. Về con chung: Chị Lan A và anh C có 01 con chung là cháu Lê Đức A1, sinh ngày 25/06/2017 hiện nay đang ở cùng ông ngoại là Phạm Văn H1, cháu có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ và ông ngoại. Anh C hiện đang sinh sống và lao động tại nước ngoài không có địa chỉ nên không đủ điều kiện nuôi con. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị Lan A được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Lê
4
Đức A1 nhưng tạm giao cho ông Phạm Văn H1 nuôi dưỡng trong thười gian chị Lan A ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh C không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Chị Lan A không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Phạm Thị Lan A phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Lan A.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Lan A được ly hôn anh Lê Văn C.
- Về con chung: Giao cháu Lê Đức A1, sinh ngày 25/06/2017 cho chị Phạm Thị Lan A trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi nhưng tạm giao cho ông Phạm Văn H1 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị Phạm Thị Lan A về nước sinh sống hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh C không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về án phí: Chị Phạm Thị Lan A phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo
5
Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000143 ngày 25/10/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
4. Về quyền kháng cáo:
- - Chị Phạm Thị Lan A và anh Lê Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- - Ông Phạm Văn H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
6
Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lan Anh ly hôn
