|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/DS-ST.
Ngày: 22/7/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Khắc Kiếm
- Bà Hoàng Thị Nga
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 22/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 126/2024/TLST- DS ngày 29 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-DS ngày 10/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị D, sinh năm 1977
- Bị đơn: Bà Lê Thị Hoài T1, sinh năm 1970
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn H, sinh năm 1964
Địa chỉ: SN G, Lê Thế L, phường B, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
Địa chỉ: SN A, đường N, phường B, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
Địa chỉ: SN A, đường N, phường B, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
Tại phiên tòa có mặt ông Nguyễn Quang T và bà Phạm Thị D. Vắng mặt bà T1 và ông H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Ông Nguyễn Quang T và bà Phạm Thị D trình bày:
Do có mối quan hệ họ hàng với vợ chồng ông Trần Văn H – bà Lê Thị Hoài T1 nên khi ông H – bà T1 đặt vấn đề vay tiền để giải quyết công việc thì vợ chồng ông bà đã đồng ý cho bà T1 và ông H vay tiền. Cụ thể, ngày 30/7/2018, ông bà đã cho vay số tiền là: 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng). Khi vay tiền, bà T1 hứa hẹn với ông bà cuối năm 2018 sẽ trả toàn bộ số tiền trên.
Quá trình vay tiền của ông bà: Ngày 03/12/2018, bà Lê Thị Hoài T1 trả cho ông bà số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Ngày 10/12/2018 trả số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Ngày 15/5/2019 trả số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Ngày 18/5/2019 trả số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Ngày 22/5/2019 trả tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Khi vay tiền hay trả tiền cho vợ chồng ông bà, bà Lê Thị Hoài T1 là người trực tiếp viết vào giấy nội dung vay/trả/nợ lại số tiền là bao nhiêu (các lần nhận tiền vay/trả tiền đều có ông Trần Văn H đi cùng). Cho đến nay tổng số tiền bà Lê Thị Hoải T2 đã vay và chưa trả cho ông bà là 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng). Mặc dù ông bà đã nhiều lần điện thoại, trực tiếp gặp bà Lê Thị Hoài T1 yêu cầu trả nợ nhưng đến nay bà T1 vẫn không trả cho ông bà khoản tiền vay trên. Vì vậy, ông bà đã làm đơn khởi kiện đến Tòa án và đề nghị giải quyết: Buộc bà Lê Thị Hoài T1 và ông Trần Văn H trả cho ông bà số tiền là 1.200.000.000 đồng ( Một tỷ hai trăm triệu đồng ).
- Tại bản tự khai, biên bản hòa giải bà Lê Thị Hoài T1 trình bày:
Do có quan hệ họ hàng với ông Nguyễn Quang T và bà Phạm Thị D nên vợ chồng bà có nhiều lần vay tiền của ông T bà D có trả lãi 1.500đ/ngày/triệu. Tuy nhiên hai bên chỉ thỏa thuận lãi bằng lời nói, mỗi lần trả lãi đều đưa trực tiếp bằng tiền mặt nên bà không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh. Đến ngày 30/7/2018 bà và vợ chồng ông T bà D có chốt nợ với nhau và cùng ngày đó bà có viết giấy chốt nợ, theo giấy bà nợ vợ chồng ông Nguyễn Quang T và bà Phạm Thị D số tiền 1.500.000.000đ. Mục đích vay tiền là để vợ chồng bà cùng kinh doanh xăng dầu và đến nay vợ chồng bà đã trả được thành nhiều lần tổng cộng 300.000.000đ còn lại nợ 1.200.000.000đ. Bà thừa nhận toàn bộ chữ viết và chữ ký tại giấy vay tiền mà ông T bà D nộp kèm theo đơn khởi kiện là chữ viết của bà. Những lần vay thì chồng bà là ông Trần Văn H không biết và không đi cùng nhưng khi cầm tiền về và khi trả tiền thì bà có nói cho ông H biết. Những lần đi trả nợ vì lâu rồi nên bà không nhớ ông H có đi cùng không. Do dịch C bùng phát nên việc kinh doanh lâm vào tình trạng rất khó khăn, chồng bà thì bị bệnh tim phải điều trị thường xuyên nên không thể thu xếp để trả nợ cho ông T bà D. Nay ông T bà D khởi kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết buộc bà phải trả số tiền còn nợ 1.200.000.000 đồng thì quan điểm của bà là bà thừa nhận số tiền nợ đó và vợ chồng bà sẽ có trách nhiệm trả nợ cho ông T bà D. Tuy nhiên do hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị cho trả nợ dần từ 5.000.000 đ đến 7.000.000 đ/tháng cho đến khi khi trả hết số tiền trên. Nếu không được thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H trình bày:
Do có quan hệ họ hàng nên từ năm 2015 vợ ông có vay tiền của ông T bà D nhiều lần có trả lãi, mục đích vay là để 2 vợ chồng ông kinh doanh xăng dầu. Đến năm 2018 hai bên có chốt nợ và vợ ông có viết giấy chốt nợ số tiền 1.500.000.000đ và đến nay vợ chồng ông đã trả được thành nhiều lần tổng cộng 300.000.000₫ còn lại nợ 1.200.000.000đ. Thực tế ông không biết và không đi cùng vợ ông đến vay tiền nhưng khi vợ ông mang tiền về đều nói với ông và khi trả nợ thì ông đều cùng với vợ thu xếp để trả nợ cho ông H và bà D. Nay ông T bà D khởi kiện đến TAND thành phố Thanh Hóa yêu cầu ông và bà T1 phải trả số tiền còn nợ 1.200.000.000 đồng thì ông thừa nhận số tiền nợ đó. Nhưng do kinh doanh thua lỗ, kinh tế rất khó khăn, ông bị bệnh tim nên ông đề nghị ông T và bà D cho vợ chồng ông thời gian trả nợ dần và vợ chồng ông bà sẽ trả 2.000.000đ/ tháng cho đến khi trả hết số tiền trên. Nếu không được thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn bổ sung một phần yêu cầu khởi kiện, đề nghị cả ông H và T1 phải trả số tiền còn nợ 1.200.000.000 đồng tiền gốc không yêu cầu tính lãi
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Bộ luật dân sự, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Nguyễn Quang T và bà Phạm Thị D khởi kiện yêu cầu Bà Lê Thị Hoài T1; địa chỉ: SN A, đường N, phường B, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa thực hiện nghĩa vụ trả nợ là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Vì vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.
Tại phiên tòa hôm nay mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà T1 là bị đơn và ông H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự để giải quyết vắng mặt bà T1 và ông H là phù hợp quy định của pháp luật.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1].Về nghĩa vụ trả tiền và xác định số tiền nợ gốc: Bà T1 và ông H đều thừa nhận có vay của ông Nguyễn Quang T và bà Phạm Thị D số tiền 1.500.000.000₫ mục đích vay là để vợ chồng cùng kinh doanh xăng dầu và đến nay đã trả nhiều lần được tổng cộng 300.000.000đ còn lại nợ 1.200.000.000đ và giấy vay tiền ngày 30/7/2018 là do tự bà T1 viết và ký.
Do vậy xác định số tiền bà T1 còn nợ ông T và bà T1 là 1.200.000.000 đồng (một tỷ hai trăm triệu đồng).
Theo bà T1 và ông H đều thừa nhận: mặc dù khi vay tiền chỉ có một mình bà T1, nhưng mục đích vay tiền về để hai vợ chồng ông bà cùng kinh doanh và bà T1 có nói cho ông H biết, khi trả tiền thì ông H cũng cùng thu xếp trả cùng bà T1. Do vậy ông T và bà D yêu cầu cả bà T1 và ông H phải trả số tiền này là phù hợp và có cơ sở để chấp nhận
[2.2]. Do ông T và bà D không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về trách nhiệm trả nợ: Vì đây là khoản nợ chung của vợ chồng nên ông H và bà T1 phải chịu trách nhiệm liên đới về khoản nợ.
[3] Về án phí: Buộc ông H và bà T1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho ông T và bà D, mỗi người phải chịu ½ án phí dân sự sơ thẩm, tuy nhiên ông H là người cao tuổi được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với phần của ông H.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 144, Điều 147, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 288, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015.
Điều 27 Luật Hôn nhân gia đình
Điều 12, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điểm b, tiểu mục 1.3 mục 1, phần II danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quang T và bà Phạm Thị D.
Buộc bà Lê Thị Hoài T1 và ông Trần Văn H liên đới trả cho ông T và bà D số tiền gốc còn nợ là 1.200.000.000đ tiền gốc. Chia phần bà T1 phải trả số tiền nợ 600.000.000 đồng, ông H phải trả: 600.000.000 đồng. Không yêu cầu tính lãi.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí:
- Bà Lê Thị Hoài T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 24.000.000đ (Hai mươi tư triệu đồng).
- Ông T và bà D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Quang T và bà Phạm Thị D số tiền 24.000.000đ (hai mươi tư triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001360 ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND TP Thanh Hóa; - Các đương sự; - Chi cục T; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ninh Thị Khánh Tân |
--- BIÊN BẢN NGHỊ ÁN (SUPPLEMENTARY DOCUMENT) ---
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ 00 phút, ngày 24/4/2024
Tại: Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thưởng
Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy
Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 34/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, giữa:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Chữ, sinh năm 1975
- -Bị đơn: Bà Đỗ Thị Quyên, sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn 3, Đình Xuyên, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
Địa chỉ thường trú: Số 129, Lý Thái Tông, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
- Về điều luật áp dụng:
khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 235; Điều 264; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự;
Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điểm b, tiểu mục 1.3 mục 1, phần II danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
- Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Chữ.
Buộc bà Đỗ Thị Quyên phải trả cho bà Chữ số tiền gốc còn nợ là 145.000.000₫ (một trăm bốn mươi lăm triệu đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án số tiền nêu trên, nếu bên phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng còn phải chịu trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
- Về án phí và quyền kháng cáo:
- Về án phí: bà Đỗ Thị Quyên phải nộp 7.250.000đ (bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị Chữ số tiền tạm ứng án phí: 4.375.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2022/0002890 ngày 06/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
Nghị án kết thúc vào hồi giờ 30 phút, ngày 15 tháng 6 năm 2023.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
Bản án số 30/2024/DS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 30/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
