|
TÒA ÁN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HS-PT Ngày: 23/5/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Huy Đức.
- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng và bà Lê Thị Thái Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa:
Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên Trung cấp.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 31/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung K đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 03/2024/HS-ST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Trung K, sinh ngày 10/8/1998 tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: Thôn L, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Nông; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn L, sinh năm 1976 và bà Đỗ Thị Kiều N, sinh năm 1975; có vợ tên Phan Thị H, sinh năm 1998 và 01 con, sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Để có tiền chơi game, Nguyễn Trung K nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền, nên khoảng 07 giờ 30 phút ngày 21/11/2023, Nguyễn Trung K một mình đi bộ đến đoạn đường bê tông thuộc thôn T, xã S, huyện T, tại đây Nguyễn Trung K phát hiện xe mô tô biển số 78G1-166.44 của ông Nguyễn Văn H1 đang dựng trên lề đường, trên xe có gắn chìa khóa, quan sát không có người trông coi, Nguyễn Trung K lén lút khởi động xe mô tô rồi điều khiển xe đi về hướng thành phố T để tiêu thụ. Khi đi đến đoạn đường Q thuộc xã H, huyện T, Nguyễn Trung K dừng lại, mở cốp xe, thấy bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám; 01 ví da bên trong có số tiền 600.000 đồng và nhiều loại giấy tờ khác. Nguyễn Trung K đem xe mô tô 78G1-166.44 đến bán cho ông Đặng Văn A, là chủ tiệm xe máy cũ Nhi A, địa chỉ B N, phường D, thành phố T với giá 6.500.000 đồng. Bán xe mô tô xong, Nguyễn Trung K đón xe đi đến cửa hàng điện thoại KING STRORE tại đường T, thành phố T bán điện thoại Iphone 11 Promax mà Nguyễn Trung K trộm được cho anh Phùng Vương P với số tiền 2.000.000 đồng, sau đó về nhà. Ông Nguyễn Văn H1 phát hiện mất tài sản, báo cáo Công an xã S để giải quyết. Chiều ngày 22/11/2023, Nguyễn Trung K đến xã H, huyện T mua thuốc tây thì có người phát hiện Nguyễn Trung K đang cất giấu một số giấy tờ của Nguyễn Văn H1, nghi ngờ Nguyễn Trung K trộm cắp tài sản của ông Nguyễn Văn H1 nên báo cáo Công an xã H, Nguyễn Trung K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Kết luận số 31/KL-HĐĐGTS ngày 27/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện T: Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER, biển số 78G1-166.44 trị giá là 12.833.000 đồng; điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 PRO MAX, màu xám trị giá là 9.167.000 đồng; ví da màu nâu trị giá là 0 đồng. Tổng trị giá các tài sản là 22.000.000 đồng.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 03/2024/HS-ST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa đã tuyên bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Khoản 1, Điều 173; Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung K 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bặt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 11/3/2024, bị cáo Nguyễn Trung K có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung K vẫn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ đã tuyên và giữ nguyên kháng cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung K – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Trung K tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị hại, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 21/11/2023, tại thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Trung K đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe môtô biển số 78G1-166.44, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax và 01 ví da màu nâu bên trong có số tiền 600.000 đồng của ông Nguyễn Văn H1, tổng giá trị tài sản trộm cắp là 22.600.000 đồng. Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Trung K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương nên cần xử phạt nghiêm, mới đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình, bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, xem xét nhân thân cũng như nguyên nhân, điều kiện phạm tội và áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K 09 (chín) tháng tù và không cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương trong tình hình hiện nay. Tại cấp phúc thẩm, không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[3] Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm a, Khoản 1, Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung K – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1, Điều 173; Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung K 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Trung K phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Huy Đức |
Bản án số 30/2024/HS-PT ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 30/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN - HSPT - NGUYỄN TRUNG K - TCTS
