|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày 23-4-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Ngọc Hà và ông Nguyễn Xuân Hinh
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Vân – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Lục Văn T (tên khác: Tiến Tộc), sinh ngày 01-01-1984 tại Cao Bằng; Căn cước công dân số [...]. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: không có nghề nghiệp ổn định; Trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lục Văn N và bà Lục Thị N1; Vợ Đỗ Thị T1 (đã ly hôn), có 03 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số 30/2020/HSST ngày 27-4-2020 của TAND thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 04 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; Nhân thân: Tại bản án số 13/2011/HSST ngày 22-3-2011 của TAND tỉnh Tây Ninh và Bản án số 388/2011/HSPT ngày 22-6-2011 của Tòa phúc thẩm - TAND tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù, về tội “Giết người”, chấp hành xong ngày 31-8-2015; Tại bản án số 119/2023/HSST ngày 30-11-2023 của TAND huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị bắt tạm giam từ ngày 20-7-2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Nguyễn Thanh L (tên khác: Mái), sinh ngày 19-4-1993 tại Bình Phước; Căn cước công dân số [...]. Nơi cư trú: ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: không có nghề nghiệp ổn định; Trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M; Tiền sự: Không; Tiền án: Tại bản án số 70/2020/HSST ngày 12-8-2020 của TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại bản án số 65/2021/HSST ngày 26-10-2021 của TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; Nhân thân: Tại Bản án số 102/2023/HSST ngày 27-9-2013 của TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 48 tháng, tính từ ngày tuyên án, về tội “Cố ý gây thương tích”; Quyết định số 39/2023/QĐ-TA ngày 13-6-2023 bị TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 20 tháng. Bị bắt tạm giam từ ngày 20-9-2023, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện D. Có mặt.
- Đặng Hữu T2 (tên khác: T2 đen), sinh ngày 01-3-2000 tại Bình Phước; Căn cước công dân số [...]. Nơi cư trú: ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: không có nghề nghiệp ổn định; Trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Hữu P và bà Danh Thị H; Tiền sự: Không; Tiền án: Tại Bản án số 01/2021/HSST ngày 19-11-2021 của TAND huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” và Tại bản án số 42/2022/HSST ngày 12-8-2022 của TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; Nhân thân: Quyết định số 46/2023/QĐ-TA ngày 06-7-2023 bị TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 22 tháng. Bị bắt tạm giam từ ngày 20-9-2023, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện D. Có mặt.
- Lê Hoàng T3, sinh ngày 21-01-1993 tại Tây Ninh; Căn cước công dân số [...]. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: không có nghề nghiệp ổn định; Trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao Đài Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H1 và bà Nguyễn Thị R; Vợ Trần Thị Tú T4 và 02 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Tại bản án số 119/2023/HSST ngày 30-11-2023 của TAND huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị bắt tạm giam từ ngày 20-7-2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Bị hại:
- Ông Huỳnh Tấn K, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Số F, thôn A, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Vợ chồng bà Đoàn Thị Ngọc H2, sinh năm 1992 và ông Nguyễn Ngọc L1, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số G, đường H, Tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Đều có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phan Văn V, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Ông Nguyễn Hữu M1, sinh năm 1992. Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 02-6-2023, Lục Văn T nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản nên đã bàn bạc với Nguyễn Thanh L, L và Đặng Hữu T2 đang ngồi cùng nhau. Sau đó, T gọi điện thoại cho Lê Hoàng T3 nói T3 đi thuê xe ô tô để chở đi công việc (Thời điểm này thì T3 chưa biết mục đích của T là đi trộm cắp tài sản), T3 đồng ý và đi thuê xe ô tô hiệu Kia Rondo biển số 93A – 09467 của ông Phan Văn V. Sau khi thuê được xe T3 đi đến đón T, L và T2. Thời điểm này chỉ T và L là biết đi trộm cắp tài sản, còn T3 và T2 chưa biết mục đích là đi để trộm cắp tài sản. Sau đó cả nhóm điều khiển xe ô tô đi từ Bình Phước sang Lâm Đồng, đến tối ngày 02-6-2023, T3, T, L và T2 đi đến địa phận huyện L, tỉnh Lâm Đồng thì phát hiện một nhà dân có sơ hở. T cùng L, T2 xuống cắt hàng rào để trộm cắp tài sản, T3 ở ngoài xe ô tô, khi đang thực hiện hành vi trộm cắp thì bị người dân phát hiện nên tất cả lên xe ô tô bỏ chạy và tiếp tục tìm nhà dân có sơ hở thì trộm cắp tài sản, thời điểm này T2 và T3 đã biết mục đích là đi trộm cắp tài sản.
Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 03-6-2023, T3, T, L và T2 đi đến địa phận huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thì phát hiện nhà ông Huỳnh Tấn K có để xe mô tô Dream hiệu Honda, biển số 76D1 – 60008 ở trước nhà. T, L, T2 xuống xe ô tô còn T3 ở ngoài xe ô tô làm nhiệm vụ cảnh giới, L dùng kìm cộng lực mang theo cắt khóa cổng và đi vào lấy trộm cắp được 01 xe Dream, hiệu Honda biển số 76D1 – 60008. Sau khi lấy được xe mô tô thì bỏ lên xe ô tô và tiếp tục đi về hướng Thành phố Hồ Chí Minh dọc theo Quốc lộ B để tìm nhà dân sơ hở thì trộm cắp tài sản.
Đến khoảng 03 giờ 00 phút, ngày 03-6-2023, khi đi đến địa phận thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng thì phát hiện cửa hàng điện thoại di động Shop C của bà Đoàn Thị Ngọc H2 có sơ hở, T cùng L trực tiếp xuống xe thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, T3 và T2 ngồi trên xe ô tô. Tài sản mà T, L, T2, T3 trộm cắp được là 28 điện thoại di động, 02 đồng hồ thông minh, tiền mặt là 72.905.000 đồng. Sau khi trộm cắp xong T3, T, L và T2 về Thành phố T, tỉnh Bình Dương rồi chia mỗi người 15.000.000 đồng và dùng 3.000.000 đồng để trả tiền thuê xe ô tô. L và T2 mỗi người lấy một chiếc điện thoại Iphone để sử dụng, L liên hệ với ông Nguyễn Hữu M1 để bán 18 chiếc điện thoại di động với giá 20.000.000 đồng. Sau khi mua điện thoại M1 đã bán 03 điện thoại xuống thành phố Cần Thơ với giá 16.000.000 đồng cho một người không rõ nhân thân lai lịch.
Vật chứng thu giữ: 01 USB màu đen hiệu Kingston có chứa 04 đoạn video ghi nhận sự việc ở D, ở USB màu đen lưu giữ hình ảnh, video ghi nhận sự việc ở Đ (hiện đang lưu giữ theo hồ sơ); 01 điện thoại di động Iphone 6S plus, 32G, Gray, số I 4663251; 02 điện thoại di động Realme C11, Ram 2GB, Rom 32GB; 01 điện thoại di động Iphone XS Max, Gold, 64G, số I 353105101331106; 01 điện thoại di động Iphone 8 plus, red, 64G, số I 356734086458886; 01 điện thoại di động Iphone 8, red, 64G, số I 352992098386040; 01 điện thoại di động Iphone 7 plus, rose, 32G, số I 3946813; 01 điện thoại di động Iphone 13, pink, 128GB, số I 351055800803701; 01 điện thoại di động Iphone 13, blue, 256G, số I 351475538140483; 01 điện thoại di động Iphone 13, black, 128G, số I 358774501020513; 02 điện thoại di động Iphone 12 pro – Pacific blue, 128G, số I 356961131244918; 356683119898701; 01 điện thoại di động Iphone 11, red, 128G, số I 350293724807778; 01 điện thoại di động Iphone 11, green, không xác định được số I; 01 xe Dream, hiệu Honda, biển số 76D1 – 60008.
Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp gồm: 01 điện thoại di động Iphone 6S plus, 32G, Gray, số I 4663251; 02 điện thoại di động Realme C11, Ram 2GB, Rom 32GB; 01 điện thoại di động Iphone XS Max, Gold, 64G, số I 353105101331106; 01 điện thoại di động Iphone 8 plus, red, 64G, số I 356734086458886; 01 điện thoại di động Iphone 8, red, 64G, số I 352992098386040; 01 điện thoại di động Iphone 7 plus, rose, 32G, số I 3946813; 01 điện thoại di động Iphone 13, pink, 128GB, số I 351055800803701; 01 điện thoại di động Iphone 13, blue, 256G, số I 351475538140483; 01 xe Dream, hiệu Honda, biển số 76D1 – 60008; 01 điện thoại di động Oppo A92, màu đen, Ram H, 128G. Đối với 01 điện thoại di động Iphone 13, black, 128G, số I 358774501020513; 02 điện thoại di động Iphone 12 pro – Pacific blue, 128G, số I 356961131244918; 356683119898701; 01 điện thoại di động Iphone 11, red, 128G, số I 350293724807778; 01 điện thoại di động Iphone 11, green, không xác định được số Imei bà H2 không đồng ý nhận lại nên cần chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh để đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án sau này.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 100/KL-HĐĐG của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng kết luận: 01 Dream, hiệu Honda biển số 76D1 – 60008 đã qua sử dụng có giá trị là 8.500.000 đồng.
Tại Kết luận số 585/KL-HĐĐG ngày 19-7-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D, tỉnh Lâm Đồng kết luận: Tổng giá trị của 28 điện thoại di động và 02 đồng hồ đeo tay thông minh bị trộm cắp vào tháng 6/2023 tại cửa hàng Đ là 233.767.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Huỳnh Tấn K đã nhận lại tài sản bị trộm cắp là xe Dream, hiệu Honda biển số 76D1 – 60008, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Bà Đoàn Thị Ngọc H2 đã nhận lại 10 chiếc điện thoại và gia đình bị cáo Lê Hoàng T3 đã bồi thường 62.000.000 đồng, bà H2 yêu cầu bị cáo Lục Văn T, Nguyễn Thanh L và Đặng Hữu T2 mỗi bị cáo phải bồi thường 62.000.000 đồng nhưng các bị cáo chưa bồi thường. Ông Nguyễn Hữu M1 không yêu cầu gì phần dân sự.
Đối với ông Nguyễn Hữu M1 là người mua điện thoại do L cùng đồng phạm trộm cắp đem bán đã thừa nhận việc mua điện thoại của L nhưng không biết nguồn gốc điện thoại do trộm cắp mà có, nên không có cơ sở xử lý đối với Nguyễn Hữu M1 về tội “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Đối với ông Phan Văn V là người cho T3 thuê xe ô tô hiệu Kia Rondo biển số 93A-09467, do V không biết việc T3 thuê xe sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không có cơ sở xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với Phan Văn V.
Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố bị cáo Lục Văn T, Nguyễn Thanh L, Đặng Hữu T2, Lê Hoàng T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
- Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo cáo trạng đã công bố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt Lục Văn T, Nguyễn Thanh L và Đặng Hữu T2 từ 08 đến 09 năm tù. Đối với Lê Hoàng T3 áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt từ 07 đến 08 năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Đoàn Thị Ngọc H2 và ông Nguyễn Ngọc L1 yêu cầu bị cáo Lục Văn T, Nguyễn Thanh L và Nguyễn Hữu T5 mỗi bị cáo bồi thường 62.000.000 đồng. Bị cáo Lê Hoàng T3 đã bồi thường cho bị hại bà H2 và ông L số tiền 62.000.000 đồng không yêu cầu gì thêm.
- Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại hiệu Iphone 11, màu đỏ bản 128GB; 01 điện thoại hiệu Iphone, màu xanh; 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh nước biển bản 128GB; 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh bị bể mặt trước và mặt sau điện thoại; 01 điện thoại hiệu Iphone 13 màu đen bản 128GB (đều không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
* Bị cáo nói lời sau cùng:
Lục Văn T: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về xã hội, giúp gia đình, vợ con, xin lỗi bị hại.
Nguyễn Thanh L: Bị cáo xin lỗi bị hại, trong thời gian bị tạm giam bị cáo ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về gia đình.
Đặng Hữu T2: Trong thời gian bị tạm giam bị cáo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lê Hoàng T3: Bị cáo xin lỗi bị hại, trong thời gian bị tạm giam bị cáo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo về nuôi mẹ già, con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Lục Văn T, Nguyễn Thanh L, Đặng Hữu T2 và Lê Hoàng T3 đều đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, vì muốn có tiền để phục vụ nhu cầu của bản thân nên bị cáo Lục Văn T, Nguyễn Thanh L, Đặng Hữu T2 và Lê Hoàng T3 đã có hành vi lén lút, lợi dụng sơ hở của bị hại để trộm cắp tài sản trị giá 315.172.000 đồng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận điều tra và cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lục Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Các bị cáo đều là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bản tính tham lam, muốn có tiền để tiêu xài cho bản thân nhưng không chịu lao động chân chính nên đã cố ý phạm tội. Hành vi của các bị cáo không những trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, khi lượng hình cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời gian nhất định mới có đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng:
Các bị cáo Lục Văn T, Nguyễn Thanh L, Đặng Hữu T2 và Lê Hoàng T3 đều có tình tiết tăng nặng “phạm tội hai lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Lục Văn T có nhân thân xấu, từng bị kết án nhưng đã được xóa án tích, sau đó bị cáo tiếp tục phạm tội đã bị kết án (Bản án số 30/2020/HSST ngày 27-4-2020 của TAND thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng), chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Nguyễn Thanh L có nhân thân xấu, từng bị kết án nhưng đã được xóa án tích, sau đó bị cáo tiếp tục phạm tội đã bị kết án (Bản án số 70/2020/HSST ngày 12-8-2020 của TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước), chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Đặng Hữu T2 có nhân thân xấu, từng bị kết án nhưng đã được xóa án tích, sau đó bị cáo tiếp tục phạm tội đã bị kết án (Bản án số 01/2021/HSST ngày 19-01-2021 của TAND huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước) và tái phạm bị kết án (Bản án số 42/2022/HSST ngày 12-8-2022 của TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước). Bị cáo T2 đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tình tiết tăng nặng “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Lê Hoàng T3 và Lục Văn T bị xét xử tại Bản án số 119/2023/HS-ST ngày 30-11-2023 của TAND huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, do hành vi phạm tội thực hiện sau đã xét xử trước nên không xem là tiền án của Lê Hoàng T3 và Lục Văn T.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Riêng Lê Hoàng T3 đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; bị hại bà H2, ông L xin giảm nhẹ hình phạt và có bà nội là cụ Nguyễn Thị T6 được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, nên cần áp dụng thêm điểm b khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cũng đủ tác dụng đối với các bị cáo, đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
- Trong vụ án này, các bị cáo là đồng phạm, bị cáo T là người khởi xướng, rủ rê L thực hiện việc trộm cắp, cũng là người thực hành, trực tiếp thực hiện tội phạm. Bị cáo L, T2, T3 là người giúp sức, cũng là người thực hành. Bị cáo T2 là người giúp sức. Xét tính chất và mức độ tham gia phạm tội thì cần có mức hình phạt tương ứng với hành vi đã thực hiện.
- Đối với ông Nguyễn Hữu M1 là người mua điện thoại, không biết nguồn gốc điện thoại do trộm cắp mà có, nên không có cơ sở xử lý đối với Nguyễn Hữu M1 về tội “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Đối với ông Phan Văn V không biết việc T3 thuê xe sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không có cơ sở xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với Phan Văn V.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Huỳnh Tấn K đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, về bồi thường không có yêu cầu gì, nên không xem xét giải quyết, về hình phạt ông K đề nghị xét xử các bị cáo theo quy định của pháp luật. Bị hại bà Đoàn Thị Ngọc H2 và ông Nguyễn Ngọc L1 yêu cầu các bị cáo Lục Văn T, Nguyễn Thanh L và Đặng Hữu T2 mỗi bị cáo bồi thường số tiền thiệt hại do tài sản bị xâm phạm là 62.000.000 đồng và đề nghị xét xử các bị cáo theo quy định của pháp luật. Riêng bị cáo Lê Hoàng T3 đã bồi thường xong số tiền 62.000.000 đồng, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T3. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác. Xét thấy yêu cầu của bị hại phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[5] Về vật chứng: 01 điện thoại hiệu Iphone 11, màu đỏ bản 128GB; 01 điện thoại hiệu Iphone, màu xanh; 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh nước biển bản 128GB; 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh bị bể mặt trước và mặt sau điện thoại; 01 điện thoại hiệu Iphone 13 màu đen bản 128GB (đều không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) tịch thu sung vào ngân sách nhà nước (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01-4-2024).
[6] Về án phí: Bị cáo Lục Văn T, Nguyễn Thanh L, Đặng Hữu T2 và Lê Hoàng T3 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phù hợp nên chấp nhận. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Lục Văn T, Nguyễn Thanh L, Đặng Hữu T2 và Lê Hoàng T3 đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 50; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lục Văn T 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29-7-2023.
- - Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 50; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20-9-2023.
- - Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 50; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đặng Hữu T2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20-9-2023.
- - Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 50; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Hoàng T3 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29-7-2023.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu và sung công quỹ nhà nước gồm: 01 điện thoại hiệu Iphone 11, màu đỏ bản 128GB; 01 điện thoại hiệu Iphone, màu xanh; 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh nước biển bản 128GB; 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh bị bể mặt trước và mặt sau điện thoại; 01 điện thoại hiệu Iphone 13 màu đen bản 128GB (đều không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) tịch thu sung vào ngân sách nhà nước (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01-4-2024).
- Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc các bị cáo Lục Văn T, Nguyễn Thanh L và Đặng Hữu T2 mỗi bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại bà Đoàn Thị Ngọc H2, ông Nguyễn Ngọc L1 số tiền bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm là 62.000.000 đồng (Sáu mươi hai triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lục Văn T, Nguyễn Thanh L, Đặng Hữu T2 và Lê Hoàng T3 mỗi bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Bị cáo Lục Văn T, Nguyễn Thanh L và Đặng Hữu T2 mỗi bị cáo nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Lục Văn T, Nguyễn Thanh L, Đặng Hữu T2 và Lê Hoàng T3, bà Đoàn Thị Ngọc H2 và Nguyễn Ngọc L1 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại ông Huỳnh Tấn K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn V và ông Nguyễn Hữu M1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Mỹ Lệ |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lục Văn T, Nguyễn Thanh Long, Đặng Hữu T2 và Lê Hoàng T3 phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
