TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 30/2023/HS-ST Ngày: 22/8/2023 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thơm;
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đức Khởi - Phó Chủ tịch Hội nông dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Nguyễn Văn Cường - Phòng giáo dục huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thúy Minh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên tòa: Ông Vũ Anh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 22/8/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2023/TLST-HS ngày 21/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐXXST - HS ngày 01 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Hán Xuân T - sinh ngày 30 tháng 7 năm 1994 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu F, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hán Văn T1, sinh năm 1968 và bà Cù Thị V; sinh năm 1974; vợ con: chưa có; Tiền án; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/5/2023, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/5/2023. Hiện đang được tại ngoại tại Khu F, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Bị hại: Cháu Hán Thị Ngọc H, sinh ngày 01/6/2011.
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Chị: Bùi Thị T2, sinh năm 1990.(Mẹ đẻ cháu H)
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại:
Bà: Đinh Thị H1, sinh năm 1979;
Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm T3 –Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ.
Địa chỉ: Phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/5/2023, Công an xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ nhận được trình báo của anh Hán Bá G, sinh năm: 1981 trú tại: khu H xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ về việc con gái anh G là cháu Hán Thị Ngọc H, sinh ngày 01/6/2011, bị Hán Xuân T, sinh năm: 1994, trú tại khu F, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ có hành vi xâm phạm thân thể (dùng tay sờ bộ phận sinh dục của cháu H), tại quán bán hàng của gia đình anh G thuộc khu 5 xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi tiếp nhận tố giác và tiến hành xác minh ban đầu, xác định có dấu hiệu của tội phạm, Công an xã V đã chuyển hồ sơ dển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để giải quyết theo quy định pháp luật.
Ngày 10/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp hợp khẩn cấp đối với Hán Xuân T. Tại Cơ quan điều tra Hán Xuân T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Khoảng 20 giờ 45 phút, ngày 09/5/2023, sau khi uống bia cùng bạn bè T cùng với Nguyễn Văn D, sinh năm: 1998, trú tại: khu I xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ đến quán nước nhà anh G để uống nước. Khi vào quán T không thấy có ai bán hàng nên gọi và đi bộ một mình xuống phòng ngủ giáp với khu bán hàng để gọi chủ quán, còn D ngồi ngoài ghế của quán đợi. Khi xuống đến phòng ngủ thì thấy cháu H đang nằm ngủ ở trong phòng theo tư thế nằm nghiêng quay mặt vào trong tường, nghiêng về bên trái, đầu hướng vào trong tường, chân hướng ra ngoài cửa. T gọi cháu H dậy bán hàng nhưng không thấy trả lời. T tiến lại gần và dùng tay trái để lật chăn đang đắp trên người cháu H xuống đến qua đầu gối, khi này T thấy quần đùi cháu Hà hơi tụt xuống hở quần lót và phần hông. T dùng tay phải vỗ nhẹ 02 cái vào mông cháu H và gọi cháu H dậy bán hàng nhưng không thấy cháu H trả lời. Thấy vậy, T dùng tay trái thò vào bên trong quần lót, sờ, nắn trực tiếp vào bộ phận sinh dục của cháu H để thỏa mãn sự tò mò và nhu cầu sinh lý nhưng không có ý định thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu H. Lúc này, cháu H thấy có người sờ nắn bộ phận sinh dục của mình nên tỉnh giấc, dùng tay gạt tay của T ra và hét lên “ chú đang làm gì đấy” T rút tay ra khỏi quần của cháu H đồng thời xin lỗi. Sau đó, cháu H hốt hoảng, khóc, đuổi T ra khỏi phòng ngủ và chạy sang quán cắt tóc của chị Cù Thị L, sinh năm: 1987 ( ở cùng khu) nhờ chị L gọi điện cho anh G. T đi ra khỏi phòng, rồi nhờ D đưa về nhà. Khi anh G về đến quán nước, thì được cháu H kể lại toàn bộ nội dung vụ việc. Sau đó, anh G làm đơn trình báo sự việc với Công an xã V.
Về dân sự: Gia đình cháu H không yêu cầu Hán Xuân T phải bồi thường dân sự. Tuy nhiên, gia đình của T đã tự nguyện bồi thường cho cháu H 30 triệu đồng. Chị T2 đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số: 29/CT - VKSTN ngày 19 tháng 7 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Hán Xuân T về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Theo quy định tại khoản 1, Điều 146 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 146; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018: Đề nghị xử phạt đối với Hán Xuân T: từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người được hưởng án treo thì giải quyết theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo Hán Xuân T và gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khỏe, nhân phẩm, uy tín và tinh thần cho cháu H2 Ngọc H và người đại diện cho cháu H (là chị Bùi Thị T2) số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng). Đại diện gia đình bị hại (chị Bùi Thị T2) đã nhận số tiền trên và có quan điểm không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm bất cứ khoản tiền gì khác, đồng thời bị hại và gia đình bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 áo phông cộc tay màu trắng, ngang thân áo có viền kẻ màu đen, đỏ, trắng, áo cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc quần lót màu trắng đục, quần cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc áo phông cộc tay màu vàng nhạt, phía sau cổ có dán mác “ PZMen's Design” áo cũ đã qua sử dụng. Tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không đề nghị lấy lại và không có ý kiến gì nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Hán Xuân T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự.
Bà Đinh Thị H1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T3 bảo vệ quyền lợi cho người bị hại có ý kiến trình bày như sau: Về tội danh mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông truy tố bị cáo “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” được quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, thì Trợ giúp viên hoàn thống nhất và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận xử phạt bị cáo mức án như trên để răn đe, giáo dục bị cáo. Về trách nhiệm dân sự thì do bị hại cũng như người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận về ý kiến phát biểu của trợ giúp viên. Bị cáo được nói lời nói sau cùng, bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên của bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định và hợp pháp.
[2] - Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 09/5/2023,tại quán bán hàng của gia đình anh Hán Bá G thuộc khu 5 xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Hán Xuân T đã có hành vi dùng tay trái sờ, nắn vào bộ phận sinh dục của cháu Hán Thị Ngọc H, sinh ngày 01/6/2011 (tính đến ngày bị xâm hại cháu H mới 11 tuổi, 11 tháng 8 ngày tuổi) nhưng T không có mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác với cháu H.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật hình sự “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm..”. Đối chiếu với quy định nêu trên thì hành vi của bị cáo Hán Xuân T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Do đó, cáo trạng đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] - Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi đã xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục của trẻ em, gây ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của người bị hại. Bị cáo là người trưởng thành nên nhận thức rõ hành vi đụng vào các bộ phận nhạy cảm của người khác là hành vi trái đạo đức xã hội và vi phạm pháp luật. Mặc dù biết được đều đó, thế nhưng chỉ vì để thỏa mãn sự ham muốn, dục vọng thấp hèn của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý dùng tay sờ vào bộ phận sinh dục của cháu H, trong khi cháu H còn nhỏ, chưa đủ 16 tuổi, Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cũng như tinh thần người bị hại, gây bất bình cho bị hại và gia đình bị hại. Từ hành vi mà bị cáo đã gây ra, HĐXX nghị án thảo luận xét thấy cần có mức án tương xứng để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] - Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] - Xét về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân bị cáo tốt không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã cùng gia đình tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt đồi với bị cáo. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét mức án vừa cho bị cáo khi lượng hình là phù hợp.
[6] - Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận để xem xét.
[7] - Xét đề nghị của bà Đinh Thị H1 - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T3 bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người bị hại là có căn cứ pháp luật nên HĐXX chấp nhận để xem xét.
[8] - Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo T cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường cho cháu H 30 triệu đồng. Chị T2 là mẹ đẻ cháu H đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu gì khác. Do người bị hại cháu Hán Thị H cũng như người đại diện hợp pháp cho cháu H chị Bùi Thị T2 không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét,
[9] - Về xử lý vật chứng: Đối với: 01 áo phông cộc tay màu trắng, ngang thân áo có viền kẻ màu đen, đỏ, trắng, áo cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc quần lót màu trắng đục, quần cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc áo phông cộc tay màu vàng nhạt, phía sau cổ có dán mác “ PZMen's Design” áo cũ đã qua sử dụng. Là vật chứng của vụ án nhưng tại phiên tòa bị cáo và bị hại, người đại diện bị hại không đề nghị lấy lại và không có ý kiến gì nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[10] - Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 146; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 khoản 1,2,5 Điều 65; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Tuyên bố: Bị cáo Hán Xuân T phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.
Xử phạt: Bị cáo Hán Xuân T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người được hưởng án treo thì giải quyết theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
- Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo Hán Xuân T và gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về cho cháu H2 Ngọc H và người đại diện cho cháu H (là chị Bùi Thị T2) số tiền 30.000.000đ(Ba mươi triệu đồng). Đại diện gia đình bị hại (chị Bùi Thị T2) đã nhận số tiền trên và có quan điểm không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm bất cứ khoản tiền gì khác.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy: 01 áo phông cộc tay màu trắng, ngang thân áo có viền kẻ màu đen, đỏ, trắng, áo cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc quần lót màu trắng đục, quần cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc áo phông cộc tay màu vàng nhạt, phía sau cổ có dán mác “ PZMen's Design” áo cũ đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/7/2023)
- Về án phí: Bị cáo Hán Xuân T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thơm |
Bản án số 30/2023/HS-ST ngày 22/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm (dâm ô đối với người dưới 16 tuổi)
- Số bản án: 30/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hán Xuân T Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi
