TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
1
Bản án số: 30/2024/DS-ST
Ngày: 22 - 7 - 2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thành Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lâm Ngọc Hà.
Ông Lê Văn Danh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Kim Thị Cẩm Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 02 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 86/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần K. Địa chỉ trụ sở: Số D, Đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M, chức vụ: Tổng Giám Đốc. (Vắng mặt)
- Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Anh V – Trưởng Bộ phận Xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K. Địa chỉ liên hệ: Số D, Đường T, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
- Bà Trương Thị Mỹ N – Chuyên viên Xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K. Địa chỉ liên hệ: Số D, Đường T, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
- Ông Trần Ngọc T – Chuyên viên Xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K. Địa chỉ liên hệ: Số D, Đường N, Phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
- Ông Dương Thanh P – Chuyên viên Xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K. Địa chỉ liên hệ: Địa chỉ: Số A, Đường T, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
(Là người đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền số 1161, ngày 06-5-2024 của Ngân hàng Thương mại cổ phần K).
- Bị đơn:
- Bà Thạch Thị N1, sinh năm 1961; (Có mặt)
- Ông Lê Minh H, sinh năm 1964. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Minh L, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Ngân hàng Thương mại cổ phần K, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, bà Trương Thị Mỹ N trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần K – Chi nhánh S – Phòng G (viết tắt là Ngân hàng) và vợ chồng ông H, bà N1 giao kết Hợp đồng tín dụng từng lần số: 040/19/HĐTD/2103-5999 ngày 27-3-2019 (viết tắt là Hợp đồng tín dụng số 040). Theo Hợp đồng tín dụng số 040, Ngân hàng cho ông H, bà N1 vay số tiền 150.000.000 đồng. Mục đích vay: Xây dựng chuồng trại nuôi heo. Giải ngân ngày 28-3-2019. Thời hạn vay: 05 năm, ngày đến hạn 28-3-2024. Lãi suất vay: 13,8%/năm, cố định trong 03 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên; các khế ước nhận nợ giải ngân sau thời gian này, lãi suất bằng lãi suất tiền gởi tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng lãnh cuối ký của Ngân hàng Thương mại cổ phần K tại thời điểm giải ngân cộng thêm 4,3%/năm; lãi suất ngay sau khi điều chỉnh không được thấp hợp lãi suất cho vay tối thiểu hiện hành của biểu lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân (cùng loại hình, phương thức vay), lãi suất vay được cố định trong 03 tháng, kể từ ngày giải ngân theo từng khế ước nhận nợ. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất vay ngay thời điểm nợ quá hạn. Mức lãi chậm trả: 10%/năm. Hình thức thanh toán: Lãi trả 06 tháng/lần, gốc trả 12 tháng/lần số tiền 20.000.000 đồng, lần cuối cùng trả 70.000.000 đồng.
Hợp đồng tín dụng số 040 được đảm bảo bằng Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số: 040/19/HĐTC-BĐS/2103-5999 ngày 27-3-2019 (viết tắt là Hợp đồng thế chấp số 040) công chứng tại Văn phòng C ngày 27-3-2019, đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Sóc Trăng ngày 28-3-2019. Tài sản thế chấp là Thửa đất số 790, tờ bản đồ 08, diện tích 259,1m² (185,6m² đất ở tại nông thôn; 73,5m² đất trồng cây lâu năm; thời hạn sử dụng đất lâu dài, đến ngày 15-10-2043), tại ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 665016, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS04126, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 19-3-2019.
Thực hiện Hợp đồng tín dụng số 040, ông H, bà N1 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán, tính đến ngày 10-01-2024 còn nợ Ngân hàng số tiền 83.525.405 đồng, gồm: Vốn gốc 74.700.000 đồng; lãi trong hạn 8.545.753 đồng; lãi quá hạn 118.276 đồng; lãi chậm trả 161.376 đồng. Dù nhiều lần Ngân hàng đã đôn đốc, tạo điều kiện để cho ông H, bà N1 thanh toán số tiền còn nợ nhưng ông H, bà N1 không có thiện chí, không thanh toán nợ vay, phát sinh nợ lãi quá hạn. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông H, bà N1 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K số tiền còn nợ tính đến ngày 10-01-2024 là 83.525.405 đồng; tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã giao kết cho đến ngày thanh toán dứt nợ. Trường hợp ông H, bà N1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ, Ngân hàng Thương mại cổ phần K có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
- Theo hồ sơ vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Thạch Thị N1 trình bày:
Bà N1 thống nhất với trình bày của người đại diện hợp pháp của Ngân hàng về thời gian giao kết hợp đồng, số tiền vay, số tiền đã thanh toán, số tiền còn nợ và tài sản thế chấp, do việc làm ăn khó khăn nên không có nguồn tiền thanh toán như thỏa thuận. Bà N1 đồng ý trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22-7-2024) số tiền 89.822.774 đồng, gồm: Vốn gốc 74.700.000 đồng; lãi trong hạn 13.921.945 đồng; lãi quá hạn 738.425 đồng; lãi chậm trả 462.404 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán khoản vay, do điều kiện kinh tế khó khăn nên đề nghị được trả dần, 03 tháng trả số tiền 5.000.000 đồng cho đến khi trả hết nợ và không đồng ý phát mãi tài sản thế chấp vì không còn chổ ở nào khác.
- Đối với bị đơn ông Lê Minh H:
Ông H đã được cấp, tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có văn bản tường trình ý kiến, không cung cấp chứng cứ phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
- Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Minh L:
Ông L đã được cấp, tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có văn bản tường trình ý kiến, không cung cấp chứng cứ phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
- Tại phiên tòa sơ thẩm:
Người đại diên hợp pháp của Ngân hàng yêu cầu ông H, bà N1 thanh toán số tiền còn nợ đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22-7-2024) số tiền 89.822.774 đồng, gồm: Vốn gốc 74.700.000 đồng; lãi trong hạn 13.921.945 đồng; lãi quá hạn 738.425 đồng; lãi chậm trả 462.404 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán khoản vay; giữ nguyên yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Bà N1 đồng ý trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22-7-2024) là 89.822.774 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán khoản vay, do điều kiện kinh tế khó khăn nên đề nghị được trả dần, 03 tháng trả số tiền 5.000.000 đồng cho đến khi trả hết nợ và không đồng ý phát mãi tài sản thế chấp vì không còn chổ ở nào khác.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Riêng bị đơn ông Lê Minh H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Minh L vắng mặt các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt các phiên tòa là chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng: Buộc ông H, bà N1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22-7-2024) là 89.822.774 đồng, gồm: Vốn gốc 74.700.000 đồng; lãi trong hạn 13.921.945 đồng; lãi quá hạn 738.425 đồng; lãi chậm trả 462.404 đồng. Trường hợp ông H, bà N1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Minh H, bà Thạch Thị N1 thanh toán tiền vay, tiền lãi, xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp đã giao kết. Ông H, bà N1 cư trú tại ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quan hệ pháp luật tranh chấp vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng là ông Nguyễn Anh V, ông Trần Ngọc T, ông Dương Thanh P vắng mặt; bị đơn ông Lê Minh H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Minh L vắng mặt. Các đương sự yêu cầu tiếp tục xét xử. Kiểm sát viên đề nghị vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 2, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, những người tham gia tố tụng này đã được triệu tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, ông Nguyễn Anh V, ông Trần Ngọc T, ông Dương Thanh P vắng mặt nhưng có bà Trương Thị Mỹ N tham gia phiên tòa; ông Lê Minh H, ông Lê Minh L vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 2, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng yêu cầu ông H, bà N1 thanh toán vốn gốc, tiền lãi còn nợ đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22-7-2024) số tiền 89.822.774 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán khoản vay. Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận thay đổi yêu cầu khởi kiện này của người đại diện hợp pháp của Ngân hàng do không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu quy định tại Khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, thay đổi yêu cầu khởi kiện này là tự nguyện, không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc yêu cầu ông H, bà N1 thanh toán vốn gốc, tiền lãi còn nợ đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22-7-2024) số tiền 89.822.774 đồng và tiếp tục tính lãi cho đến khi trả tất nợ. Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi được giải ngân tiền vay, ông H, bà N1 đã trả vốn gốc được số tiền 75.300.000 đồng, còn nợ lại số tiền 74.700.000 đồng thì không tiếp tục trả vốn gốc, không trả lãi nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ quy định tại Điều 3, Điều 12 của Hợp đồng tín dụng số 040. Ngoài ra, Ngân hàng xác định đúng thời gian tính lãi, mức lãi suất thỏa thuận phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 92 của Luật các Tổ chức tín dụng và Khoản 2 Điều 8 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông H, bà N1 trả tiền vốn gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22-7-2024) số tiền 89.822.774 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[5] Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22-7-2024), ông H, bà N1 còn phải chịu tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng từng lần số: 040/19/HĐTD/2103-5999 ngày 27-3-2019 cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng L1 mà ông H, bà N1 phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
[6] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay theo Hợp đồng tín dụng số 040, ông H, bà N1 thế chấp tài sản là thửa đất số 790, tờ bản đồ 08, diện tích 259,1m² (185,6m² đất ở tại nông thôn; 73,5m² đất trồng cây lâu năm; thời hạn sử dụng đất lâu dài, đến ngày 15-10-2043), tại ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 665016, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS04126, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 19-3-2019 theo Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số: 040/19/HĐTC-BĐS/2103-5999 ngày 27-3-2019, được Văn phòng C công chứng ngày 27-3-2019, đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Sóc Trăng ngày 28-3-2019 nên có hiệu lực pháp luật. Tại Điều 9, 11 của Hợp đồng thế chấp số 040 quy định trường hợp ông H, bà N1 vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp, hợp đồng tín dụng và các thỏa thuận khác Ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H, bà N1 đã vi phạm thỏa thuận trả vốn gốc, trả lãi, khoản vay quá hạn thanh toán. Do đó, Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ chấp nhận.
[7] Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19-4-2024, tài sản thế chấp có tài sản gắn liền gồm: Mái che trước diện tích 57,6m², kết cấu cột bê tông đúc sẵn, mái tole, tường 10cm, nền xi măng; Nhà chính diện tích 56,27m², kết cấu khung cột đà bê tông cốt thép, nền lát gạch Ceramic, tường 10cm, mái tole, trần thạch cao, cửa sắt và kính; Hành lang diện tích 32,07m², kết cấu khung cột đà bê tông cốt thép, nền lát gạch Ceramic, tường 10cm, mái tole, trần thạch cao, cửa nhôm kéo; Nhà sau diện tích 50,4m², kết cấu khung cột đà bê tông cốt thép, nền lát gạch Ceramic, tường 10cm, mái tole, không trần, cửa sắt; Mái che sau diện tích 18,46m², kết cấu mái tole, cột cây, không vách, nền xi măng. Tài sản này ngoài ông H, bà N1 còn có ông Lê Minh L quản lý, sử dụng. Như đã nhận định, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng được chấp nhận nên ông H, bà N1, ông L phải có nghĩa vụ giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để xử lý theo quy định.
[8] Như đã nhận định, Ngân hàng yêu cầu ông H, bà N1 trả vốn gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả đến ngày xét xử sở thẩm số tiền 89.822.774 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán khoản vay; yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ chấp nhận.
[9] Bà N1 yêu cầu được trả dần, 03 tháng trả số tiền 5.000.000 đồng cho đến khi tất nợ nhưng Ngân hàng không đồng ý, yêu cầu này của bà N1 sẽ được giải quyết ở giai đoạn thi hành án, khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[10] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 1.400.000 đồng, Ngân hàng đã tạm ứng và thanh toán xong. Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận toàn bộ nên ông H, bà N1 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng chi phí xem xét, thẩm định tại chổ số tiền 1.400.000 đồng.
[11] Về án phí dân sự sơ thẩm: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí sơ thẩm và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp; ông H, bà N1 phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận.
[12] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 157, Điều 158, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 2, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 91 của Luật Tổ chức tín dụng năm 2010;
- Khoản 2 Điều 8 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần K, buộc ông Lê Minh H, bà Thạch Thị N1 thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K số tiền còn nợ đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22-7-2024) là 89.822.774 đồng, gồm:
- - Vốn gốc: 74.700.000 đồng;
- - Lãi trong hạn: 13.921.945 đồng;
- - Lãi quá hạn: 738.425 đồng;
- - Lãi chậm trả: 462.404 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22-7-2024) ông Lê Minh H, bà Thạch Thị N1 còn phải chịu tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng từng lần số 040/19/HĐTD/2103-5999 ngày 27-3-2019 cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng từng lần số 040/19/HĐTD/2103-5999 ngày 27-3-2019 các bên có thỏa thuận điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần K lãi suất mà ông Lê Minh H, bà Thạch Thị N1 phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần K.
- Trường hợp ông Lê Minh H, bà Thạch Thị N1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ gồm:
- - Thửa đất số 790, tờ bản đồ 08, diện tích 259,1m² (hình thức sử dụng: riêng; 185,6m² đất ở tại nông thôn và 73,5m² đất trồng cây lâu năm; thời hạn sử dụng đất lâu dài, đến ngày 15-10-2043), tại ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 665016, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS04126, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 19-3-2019.
- - Tài sản gắn liền với thửa đất gồm: Mái che trước diện tích 57,6m², kết cấu cột bê tông đúc sẵn, mái tole, tường 10cm, nền xi măng; Nhà chính diện tích 56,27m², kết cấu khung cột đà bê tông cốt thép, nền lát gạch Ceramic, tường 10cm, mái tole, trần thạch cao, cửa sắt và kính; Hành lang diện tích 32,07m², kết cấu khung cột đà bê tông cốt thép, nền lát gạch Ceramic, tường 10cm, mái tole, trần thạch cao, cửa nhôm kéo; Nhà sau diện tích 50,4m², kết cấu khung cột đà bê tông cốt thép, nền lát gạch Ceramic, tường 10cm, mái tole, không trần, cửa sắt; Mái che sau diện tích 18,46m², kết cấu mái tole, cột cây, không vách, nền xi măng.
Khi Ngân hàng Thương mại cổ phần K có đơn yêu cầu thi hành án, ông Lê Minh H, bà Thạch Thị N1, ông Lê Minh L phải có nghĩa vụ bàn giao tài sản nêu trên cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý theo quy định.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Lê Minh H, bà Thạch Thị N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 4.491.139 đồng.
- - Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.088.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000806 ngày 20-02-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Lê Minh H, bà Thạch Thị N1 phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 1.350.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Châu Thành; - CCTHADS huyện Châu Thành; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thành Đạt |
Bản án số 30/2024/DS-ST ngày 22/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 30/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K.
