Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 30/2024/HSST

Ngày 22-4-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Chánh
Ông Nguyễn Ngọc Cang

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Khuất Thị Thu Hà - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 149/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 01/4/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Bá T, sinh năm 1982 tại Bắc Ninh; Nơi cư trú: khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Cha: Nguyễn Bá M, sinh năm 1961; Mẹ: Ngô Thị T1, sinh năm 1960; Vợ: Nguyễn Hồng T2, sinh năm 1984 và có 01 con sinh năm 2020;

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt ngày 24/5/2023 (có mặt).

- Người bào chữa: Luật sư Lê Văn L thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).

- Bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967; Địa chỉ: khu phố V, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1990. Địa chỉ: khu phố V, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  3. Bà Dương Thị H2, sinh năm 1990. Địa chỉ: khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
  4. Ông Phạm Thành T3, sinh năm 1983. Địa chỉ: khu phố M, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  5. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ A, KP T, phường P, TX. P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Hành vi phạm tội của Nguyễn Bá T:

Do cần tiền nên Nguyễn Bá T đã nảy sinh ý định làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi tắt là sổ đỏ) để đem cầm cố vay tiền nhưng thực chất là lừa dối chiếm đoạt tiền của người cho vay. Từ tháng 10/2021 đến tháng 11/2022, thông qua mạng xã hội Zalo, T liên hệ thuê đối tượng (không rõ lai lịch) làm giả 5 (năm) sổ đỏ bằng phương pháp in phun màu với giá 8 triệu đồng/sổ, có thông tin như sau:

  • [1] 01 (một) sổ đỏ số seri CN082334 thửa đất số 2058, tờ bản đồ số 11, diện tích 528m2 tại khu phố V, phường P, thị xã P do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 19/6/2018 đứng tên Bùi Thị N; chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho vợ/chồng Nguyễn Bá T4 Hồng Thanh ngày 22/5/2019.
  • [2] 03 (ba) sổ đỏ có cùng thông tin số seri CO779208 thửa đất số 910, tờ bản đồ số 3, diện tích 125m2 tại Khu tái định cư Dha thuộc khu phố T, phường P, thị xã P do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 22/8/2018 đứng tên ông Nguyễn Nhật Q; chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho vợ/chồng Nguyễn Bá T4 Hồng Thanh ngày 13/3/2029.
  • [3] 01 (một) sổ đỏ số seri CP774902 thửa đất số 598, tờ bản đồ số 25 diện tích: 140m2 tại Khu phố P, phường T, thị xã P, do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 28/12/2018 đứng tên Nguyễn Anh T5; chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho vợ/chồng Nguyễn Bá T4 Hồng Thanh ngày 18/5/2022.

Tại Kết luận giám định số 43/KL-KTHS-TL ngày 11/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B đối với các sổ đỏ giả thu giữ được xác định phôi giấy, chữ ký, hình con dấu là giả; tất cả đều được làm giả bằng phương pháp in phun màu.

Sau khi có sổ đỏ giả, T đã sử dụng 5 sổ đỏ giả đem cầm cố vay tiền của 5 cá nhân trên địa bàn thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nhưng thực chất là lừa dối để chiếm đoạt tiền vay.

Cụ thể như sau:

  • Lần 1: Tháng 10/2021, T sử dụng 01 sổ đỏ giả số seri CO779208 thửa đất số 910, tờ bản đồ số 3, diện tích 125m2 tại Khu tái định cư Dha thuộc khu phố T, phường P, thị xã P cầm cố vay số tiền 100 triệu đồng của bà Nguyễn Thị H (tên khác H3, sinh năm 1967, trú tại Tổ A khu phố V, phường P, thị xã P) nhưng thực chất là lừa dối để chiếm đoạt.
  • Lần 2: Tháng 3/2022, T sử dụng 01 sổ đỏ giả số seri CO779208 thửa đất số 910, tờ bản đồ số 3, diện tích 125m2 tại Khu tái định cư Dha thuộc khu phố T, phường P, thị xã P cầm cố vay số tiền 50 triệu đồng của bà Phạm Thị H1 (sinh năm 1990, trú tại Khu phố V, phường P, thị xã P) nhưng thực chất là lừa dối để chiếm đoạt.
  • Lần 3: Tháng 3/2022, T sử dụng 01 sổ đỏ giả số seri CO779208 thửa đất số 910, tờ bản đồ số 3, diện tích 125m2 tại Khu tái định cư Dha thuộc khu phố T, phường P, thị xã P cầm cố vay số tiền 80 triệu đồng của bà Nguyễn Thị K (sinh năm 1981, trú tại Tổ A, khu phố T, phường P, thị xã P) nhưng thực chất là lừa dối để chiếm đoạt.
  • Lần 4: Tháng 8/2022, T sử dụng sổ đỏ giả sổ đỏ số seri CN082334 thửa đất số 2058, tờ bản đồ số 11, diện tích 528m2 tại khu phố V, phường P, thị xã P cầm cố vay số tiền 120 triệu đồng của bà Dương Thị H2 (sinh năm 1990, trú tại Tổ A, khu phố T, phường P, thị xã P) nhưng thực chất là lừa dối để chiếm đoạt.
  • Lần 5: Tháng 11/2022, T sử dụng sổ đỏ giả số seri CP774902 thửa đất số 598, tờ bản đồ số 25 diện tích 140m2 tại Khu phố P, phường T, thị xã P cầm cố vay số tiền 50 triệu đồng của ông Phạm Thành T3 (sinh năm 1983, trú tại Khu phố M, phường M, thị xã P) nhưng thực chất là lừa dối để chiếm đoạt.

Như vậy, với phương thức và thủ đoạn nêu trên, T đã lừa dối chiếm đoạt hoàn thành tổng số tiền 400 triệu đồng của 5 bị hại cá nhân. Số tiền chiếm đoạt được, T khai đầu tư kinh doanh bất động sản nhưng thua lỗ hết.

Ngày 27/12/2022, T đến Công an thị xã P tự thú. Quá trình điều tra, bị can T đã khai nhận hành vi của bản thân như đã nêu trên, công nhận kết quả giám định. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai của các bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

+ Vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ được 01 sổ đỏ giả số seri CN082334, 02 sổ đỏ giả cùng số seri C0779208 và 01 sổ đỏ giả số seri CP774902 do các bị hại H2, H1, K và ông Tâm giao n (sổ đỏ giả số seri C0779208 không thu được do bị hại H đã làm mất trong quá trình chuyển chỗ ở). Cả 4 sổ đỏ giả được chuyển theo hồ sơ vụ án để xét xử.

+ Phần dân sự: Quá trình điều tra, bị can T đã trả 400 triệu đồng tiền chiếm đoạt cho các bị hại H, H1, H2, K và T3. Các bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho T.

2. Các vấn đề khác có liên quan:

  • Đối với đối tượng T khai thuê làm 5 sổ đỏ giả với giá 8 triệu đồng/sổ hiện chưa rõ lai lịch; Cơ quan CSĐT tiếp tục truy xét, khi nào xác định được xử lý sau theo quy định của pháp luật.
  • Đối với bà Nguyễn Hồng T2 (vợ T) có tên trong nội dung chỉnh lý biến động các sổ đỏ giả; quá trình điều tra bà T2 không biết, không đồng phạm với T nên không đủ cơ sở xử lý theo vụ án này.
  • Đối với số tiền 1,26 tỷ đồng mà các bị hại H, K, H1, H2 và T3 cho T vay không thế chấp; do các giao dịch này diễn ra trước khi T thế chấp sổ đỏ giả để vay tiền nên không đủ cơ sở xử lý theo vụ án này.

Bản cáo trạng số 06/CT-VKS-P2 ngày 25-12-2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Nguyễn Bá T về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Bá T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Bá T từ 5 đến 6 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và từ 2 đến 3 năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Đề nghị tổng hợp hình phạt đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định.

Luật sư Lê Văn L phát biểu bào chữa cho bị cáo: Luật sư đồng ý với tội danh, điều luật truy tố, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS xét xử bị cáo mức án dưới khung hình phạt như luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị xem xét bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, tham gia công tác Đoàn tại địa phương, có nhiều đóng góp cho các hoạt động xã hội của địa phương để xem xét mức án nhẹ nhất cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Bá T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không bào chữa bổ sung. Lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn, hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Do cần tiền nên Nguyễn Bá T đã nảy sinh ý định làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đem cầm cố vay tiền nhưng thực chất là lừa dối chiếm đoạt tiền của người cho vay. Từ tháng 10/2021 đến tháng 11/2022, thông qua mạng xã hội Zalo, T liên hệ thuê đối tượng (không rõ lai lịch) làm giả 05 giấy chứng nhận QSD đất bằng phương pháp in phun màu có các số seri CN082334, CO779208, CP774902 với giá 8 triệu đồng/giấy.

Sau khi có giấy CNQSD đất giả, từ tháng 10/2021 đến tháng 11/2022, T đã sử dụng thủ đoạn gian dối, dùng 5 giấy CNQSD đất giả đem cầm cố vay tiền của 5 cá nhân để chiếm đoạt tiền vay của bị hại. Theo đó, T đã lừa dối chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị H số tiền 100 triệu đồng, chiếm đoạt của bà Phạm Thị H1 số tiền 50 triệu đồng, chiếm đoạt của bà Dương Thị Hằng s tiền 80 triệu đồng, chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị K số tiền 120 triệu đồng, chiếm đoạt của ông Phạm Thành T3 số tiền 50 triệu đồng. Tổng số tiền T đã lừa dối chiếm đoạt là 400 triệu đồng.

Do vậy, hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự đúng như quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền tài sản của các bị hại được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, nhiều lần dùng giấy tờ giả để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng:

Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi sử dụng giấy tờ giả và lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại nên thuộc tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ:

Xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; tự giác đến cơ quan công an tự thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục toàn bộ hậu quả, trả lại tiền chiếm đoạt cho các bị hại; các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; quá trình công tác Đoàn thanh niên tại địa phương, được tặng nhiều bằng khen vì có thành tích xuất sắc nên xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo và xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho các bị hại và các bị hại không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

01 sổ đỏ giả số seri CN082334, 02 sổ đỏ giả cùng số seri C0779208 và 01 sổ đỏ giả số seri CP774902 do các bị hại H2, H1, K và ông Tâm giao n (sổ đỏ giả số seri C0779208 không thu được do bị hại H đã làm mất trong quá trình chuyển chỗ ở) cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
    • Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự;
    • Xử phạt: Nguyễn Bá T 04 (bốn) năm tù.
    • Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
    • Xử phạt: Nguyễn Bá T 03 (ba) năm tù.
    • Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự; tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Bá T phải chấp hành hình phạt chung là 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/5/2023.
  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tiếp tục lưu theo hồ sơ 01 sổ đỏ giả số seri CN082334, 02 sổ đỏ giả cùng số seri C0779208 và 01 sổ đỏ giả số seri CP774902 do các bị hại H2, H1, K và ông Tâm giao n.
  3. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao tại Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Trại tạm giam - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Cục THADS tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Bị cáo; người bào chữa; bị hại;
  • - Lưu: Tòa Hình sự, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trung Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HSST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 30/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bá T Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger