Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VÕ NHAI

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày 21/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Hạnh và bà Lường Thu Trang.
  • Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lý, Thư ký Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cảnh, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 30/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 07/8/2024, đối với bị cáo:

Đỗ Công L, tên gọi khác: không; sinh ngày 01/7/1984, tại Thái Nguyên; nơi cư trú: xóm T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Công H và bà Lê Thị Đ; có vợ là Lê Thị H1, sinh năm 1990; có 02 con.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/5/2024 đến nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thúy H2, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T, có mặt;

- Bị hại: Anh Chu Văn L1, sinh năm 1973 và chị Đỗ Thị H3, sinh năm 1979, cùng nơi cư trú: xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, có mặt;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị H1, sinh năm 1990, nơi cư trú: xóm T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, có mặt;

- Người làm chứng:

  • + Anh Chu Văn L2, sinh năm 1998, nơi cư trú: xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt;
  • + Chị Phan Thị H4, sinh năm 1981, nơi cư trú: xóm M, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt;
  • + Ông Chu Thế K, sinh năm 1967, nơi cư trú: xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bức xúc về việc ngày 08/12/2023 bị chị gái ruột là Đỗ Thị H3 chặt cành cây Sung cảnh làm mất đi một phần giá trị của cây cảnh, Đỗ Công L đã báo ban xóm mời chị H3 về giải quyết, nhưng chị H3 đi làm xa chưa về giải quyết. Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 15/02/2024 Đỗ Công L mang theo 01 cưa lốc đến nhà chị H3 để cắt cây cảnh của gia đình chị H3. Khi đến nhà chị H3, L gặp anh Chu Văn L1 là chồng chị H3 ở nhà, anh L1 mời L vào nhà uống nước, nhưng L không vào, lúc này anh L1 ra phía sau nhà thay quần áo đi làm, L ra phía trước sân nhà anh L1 dùng cưa lốc cắt 02 vết vào gốc cây T La Hán còn sống có đường kính gốc 27cm, cao 4,38m, cây có 09 tầng lá. Sau khi cắt cây bị nghiêng chưa đổ, đến đêm cùng ngày thì cây bị đổ. Cùng ngày anh L1 đã trình báo cơ quan công an đề nghị xử lý đối với Đỗ Công L theo quy định của phát luật.

Tại Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực Lâm nghiệp số 80-2024/KL/LNNĐ ngày 19/4/2024 của V Nhiệt đới về giám định loại cây và tuổi cây kết luận: Cây của anh Chu Văn L1 bị bị cáo L cắt gốc ngày 15/02/2024 có tên gọi là T1 la hán, tên gọi khác là T la hán tương đương gỗ nhóm V; tuổi cây từ 26 đến 28 năm.

Tại Kết luận định giá tài sản số 10/KL- HĐĐGTS, ngày 17/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: 01 cây Thông la hán (tên khác T la hán), tuổi từ 26 - 28 năm; cây cao 4,38m; đường kính gốc đo sát mặt đất là 27cm có giá trị là 26.667.000 đồng.

Ngày 30/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành khám xét người, chỗ ở của Đỗ Công L và thu giữ 01 cưa máy nhãn hiệu CHAIN SAW 5900 có phần nhựa ốp máy màu đỏ cam, phần lưỡi cắt bằng kim loại dài 52cm, máy đã cũ, đã qua sử dụng.

Vật chứng của vụ án: 01 cưa máy nhãn hiệu CHAIN SAW 5900 có phần nhựa ốp máy màu đỏ cam, phần lưỡi cắt bằng kim loại dài 52cm, đã qua sử dụng. Hiện đang bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và vợ là chị Lê Thị H1 đã tự nguyện bồi thường thiệt hại tài sản cho anh Chu Văn L1 số tiền 26.667.000 đồng. Anh Chu Văn L1 và chị Đỗ Thị H3 đã nhận đủ số tiền, không có ý kiến đề nghị gì thêm.

Cáo trạng số 31/CT-VKSVN ngày 29/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo Đỗ Công L về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Công L phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Về hình phạt: đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Công L từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 cưa máy nhãn hiệu CHAIN SAW 5900.

Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại số tiền 26.667.000 đồng.

Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa: Nhất trí với tội danh, điều luật như nội dung Bản cáo trạng truy tố và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo mức án 06 tháng tù cho hưởng án treo, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.

Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Theo các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 13 giờ 45 ngày 15/02/2024 tại xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Đỗ Công L đã có hành vi dùng 01 cưa máy (cưa lốc) cắt 02 nhát vào cây T1 la hán (tên khác T la hán), tuổi từ 26 - 28 năm; cây cao 4,38m; đường kính gốc đo sát mặt đất là 27cm, làm cây đổ thành 02 phần gốc và phần thân ngọn của anh Chu Văn L1 có giá trị là 26.667.000 đồng.

[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và biên bản hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự, điều luật có nội dung:

“1. Người nào hủy hoại... tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[4] Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, do vậy bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng thêm 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt chính áp dụng đối với bị cáo: Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, đã thật sự tỏ rõ sự ăn năn hối cải, được hưởng 05 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, bị hại tha thiết xin cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục là đủ, điều này thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội lần đầu và có nhân thân tốt, cũng đủ khả năng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định; xác minh tại nơi cư trú của bị cáo xác định bị cáo hiện đang sống cùng gia đình, không có tài sản gì riêng có giá trị, gia đình thuộc hộ cận nghèo. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo và vợ bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 26.667.000 đồng, bị hại đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu đề nghị gì thêm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Thị H1 là vợ bị cáo xác định số tiền bồi thường cho bị hại là của chung 02 vợ chồng, chị H1 không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền trên; phần dân sự đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[9] Về vật chứng của vụ án: 01 cưa máy nhãn hiệu CHAIN SAW 5900 là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[10] Về án phí: Bị cáo là cá nhân thuộc hộ cận nghèo và bị cáo có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Công L phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
  2. Về hình phạt: căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Công L 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
    • - Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
    • - Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người thi hành án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  3. Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  5. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 cưa máy nhãn hiệu CHAIN SAW 5900 có phần nhựa ốp máy màu đỏ cam, phần lưỡi cắt bằng kim loại dài 52cm, máy cũ đã qua sử dụng.

    Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 39 ngày 30/7/2024 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai.

  6. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  7. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND huyện Võ Nhai;
  • - Công an huyện Võ Nhai;
  • - Chi cục THADS huyện Võ Nhai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN về hủy hoại tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạm tội huỷ hoại tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger