TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày: 21 – 5 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Vi Anh Tú.
- 2/ Bà Lô Thị Hà.
- - Thư ký phiên toà: Bà Vị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/TLST – HS ngày 09 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Lô Văn T, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1997 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lô Văn H và bà Lô Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 65/2019/HS-ST ngày 02/10/2019 (đã được xóa án tích); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay. (Có mặt)
- Họ và tên: Lò Văn T1, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1995 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: bản M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Đ (đã chết) và bà Vi Thị T2; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 40/2019/HS-ST ngày 26/8/2019 (đã được xóa án tích); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay. (Có mặt)
- Người làm chứng:
- Anh Lương Văn L1, sinh năm: 1982; trú tại: bản M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
- Anh Hà Giang S, sinh năm: 1976; Trú tại: bản M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/12/2023 Lô Văn T đi từ nhà ở bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An ra Quốc lộ D bắt xe khách lên huyện Q, tỉnh Nghệ An với mục đích tìm mua ma túy về để bán kiếm lời, đến khu vực xã M, huyện Q thì T xuống xe đi bộ một mình, khi đi qua khu vực cầu treo T gặp một người đàn ông không quen biết, qua trao đổi biết người đàn ông có ma túy bán nên T hỏi mua với số tiền là 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) và được người đàn ông đồng ý bán cho 01 (một) gói ma túy. Sau khi mua được ma túy T cất giấu trong túi quần đang mặc rồi bắt xe khách trở về nhà, về đến nhà T chia gói ma túy mua được thành 05 (năm) gói nhỏ hơn, trong đó 03 (ba) gói được bọc bên ngoài bằng mảnh giấy viết màu trắng, 02 (hai) gói còn lại được bọc bằng mảnh bao ni lông màu trắng rồi cất giấu vào chiếc rương đựng quần áo trong phòng ngủ của mình. Tối ngày 17/12/2023 khi T đang ở nhà có Lò Văn T1 đến nhà chơi, trong lúc nói chuyện T1 nói với T bản thân không có tiền để tiêu xài, T hỏi T1 “Muốn có tiền tiêu xài không” thì T1 trả lời “Tiền thì ai chả muốn” nghe vậy T lấy 03 (ba) gói ma túy nhỏ đều được bọc bên ngoài bằng mảnh giấy viết màu trắng đưa cho T1 bán hộ lấy tiền chia nhau và được T1 đồng ý, 02 (hai) gói ma túy còn lại T cất giấu 01 (một) gói nhỏ hơn vào túi quần mình đang mặc, gói còn lại cất giấu vào trong rương đựng đồ. Sau khi ngồi chơi được một lúc Tư đi về nhà và đã lấy 02 (hai) gói ma túy ra sử dụng hết, còn lại 01 (một) gói T1 cất giấu trong túi quần mình đang mặc, sáng ngày 18/12/2023 sau khi đến lợp nhà giúp hàng xóm ở cùng bản, trong lúc ngồi ăn cơm trưa Lương Văn L1 hỏi T1 “Có hàng không T1 ơi” (ý hỏi có ma túy không) thì T1 gật đầu nhưng L1 không nói gì thêm, một lúc sau có Hà Giang S đến và hỏi “Cháu có thuốc giải rượu không?” (ý hỏi có ma túy không) T1 trả lời có, nghe vậy S đưa cho T1 số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và T1 đưa gói ma túy cho S nhưng S nói với T1 đưa cho L1 cầm hộ mình, quá trình mua bán ma túy giữa T1 và S chỉ có một mình L1 biết và chứng kiến. Sau đó S và L1 rủ nhau đi lên khu vực khe Pạng sử dụng ma túy, trong lúc sử dụng có Vi Văn T3 và Lô Văn S1 đi ngang qua xin được sử dụng cùng, trong lúc các đối tượng đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an bắt quả tang thu giữ 01 (một) gói ma túy bên ngoài bọc bằng mảnh giấy viết màu trắng bên trong có chứa một ít chất bột nén màu trắng (nghi là ma túy) còn lại chưa sử dụng hết, các đối tượng bị lập biên bản, niêm phong vật chứng để điều tra xử lý theo quy định. Quá trình điều tra đã tiến hành khám xét, bắt khẩn cấp đối với Lò Văn T1 và Lô Văn T, thu giữ tại Lô V 02 (hai) gói ma túy mà T đang cất giấu với mục đích để bán kiếm lời.
Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 19/12/2023 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An, xác định vật chứng thu giữ của Lương Văn L1 và Hà Giang S gồm: 01 (một) gói chất rắn màu trắng bọc bằng mảnh giấy vở ô ly có khối lượng cả bì là 0,2g (không phẩy hai gam), sau khi loại bỏ bao bì số chất rắn màu trắng có khối lượng là 0,06g (không phẩy không sáu gam), cán bộ ký thuật hình sự trích lấy toàn bộ chất rắn màu trắng nói trên để đưa đi giám định tính chất ma túy.
Kết luận giám định số: 47/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 25/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “- Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Lương Văn L1 và Hà Giang S gửi đến giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- Số chất rắn màu trắng thu giữ của Lương Văn L1 và Hà Giang S có khối lượng là 0,06g (không phẩy không sáu gam).”
Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 19/12/2023 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An, xác định vật chứng thu giữ của Lô Văn T gồm: 01 (một) gói chất rắn màu trắng, bọc bằng mảnh bao nilon màu trắng có khối lượng cả bì là 0,3g (không phẩy ba gam), sau khi loại bỏ bao bì, số chất rắn màu trắng có khối lượng là 0,15g (không phẩy mười lăm gam), lấy toàn bộ chất rắn màu trắng đưa đi giám định tính chất ma túy (Ký hiệu M1).
01 (một) gói chất rắn màu trắng, bọc bằng mảnh bao nilon màu trắng có khối lượng cả bì là 16,98g (mười sáu phẩy chín mươi tám gam), sau khi loại bỏ bao bì, số chất rắn màu trắng có khối lượng là 15,73g (mười lăm phẩy bảy mươi ba gam), cán bộ ký thuật hình sự trích lấy 0,73g (không phẩy bảy mươi ba gam) chất rắn màu trắng đưa đi giám định tính chất ma túy (Ký hiệu M2). Số vật chứng còn lại bao gồm 15g (mười lăm gam) chất rắn màu trắng, các mảnh bao nilon màu trắng và toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ sau khi kiểm tra, lấy mẫu xong được niêm phong lại theo đúng quy định.
Kết luận giám định số: 48/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 25/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “- 02 (hai) mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Lô Văn T gửi đến giám định đều là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- Số chất rắn màu trắng thu giữ của Lô Văn T có tổng khối lượng là 15,88g (mười lăm phẩy tám mươi tám gam).”
Bản cáo trạng số: 28/CT-VKS-QC ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố bị cáo Lô Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Lò Văn T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm i khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lô Văn T từ 11 năm đến 12 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điêu 38; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn T1 từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.
Buộc các bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị truy thu từ bị cáo Lò Văn T1 số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) do bán ma túy mà có. Tịch thu tiêu hủy số vật chứng còn lại gồm 0,06g (không phẩy không sáu gam) chất ma túy (Heroine) thu giữ từ Lương Văn L1 và Hà Giang S và 15,88g (mười lăm phẩy tám mươi tám gam) chất ma túy (Heroine) thu giữ từ bị cáo Lô Văn T, mảnh giấy viết màu trắng, 02 (hai) mảnh bao ni lông màu trắng cùng toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ được niêm phong lại theo quy định.
Tại phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng tại phiên tòa các bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo để được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa: Tại phiên tòa vắng mặt những người làm chứng, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, làm rõ những nội dung liên quan phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo, căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng là đúng quy định.
[2] Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của các bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:
Vào ngày 18/8/2023 sau khi lực lượng Công an bắt quả tang hành vi sử dụng ma túy của Hà Giang S, Lương Văn L1, Lô Văn S1 và Vi Văn T3 tại khu vực khe Pạng thuộc xã C thu được 01 (một) gói ma túy (Heroine) có khối lượng 0,06g (không phẩy không sáu gam), các đối tượng khai nhận gói ma túy do Hà Giang S mua với bị cáo Lò Văn T1 vào trưa cùng ngày với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) với mục đích để sử dụng, tiến hành điều tra xác định được gói ma túy bị cáo Lò Văn T1 bán cho Hà Giang S có nguồn gốc từ bị cáo Lô Văn T đưa cho bị cáo T1 nhờ bán hộ lấy tiền lời để chia nhau, khám xét tại bị cáo Lò Văn T1 không thu giữ được gì, số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) bán ma túy bị cáo T1 đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo Lô Văn T, thu trong túi quần bên phải đang mặc của bị cáo T 01 (một) gói ma túy (Heroine) và thu giữ trong rương đựng quần áo trong phòng ngủ của bị cáo T 01 (một) gói ma túy (H1), 02 (hai) gói ma túy (Heroine) thu được của bị cáo T có tổng trọng lượng sau khi loại bỏ bao gói là 15,88g (mười lăm phẩy tám mươi tám gam), bị cáo thừa nhận số ma túy trên nhằm mục đích cất giấu để bán lại cho những người sử dụng để thu tiền lời.
Hành vi của các bị cáo Lô Văn T và Lò Văn T1 đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 và điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, bởi ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và bệnh truyền nhiễm khác. Bản thân các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, có nhân thân xấu đã từng bị xử phạt tù về tội phạm liên quan đến ma túy nên nhận thức được tác hại của ma túy đối với xã hội nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, lao động hoặc làm công việc hợp pháp để có thu nhập chính đáng mà cố ý phạm tội để nhằm có tiền nhanh nhất thỏa mãn nhu cầu của cá nhân nên đã cố ý phạm tội, do đó cần lên cho các bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để các bị cáo có thời gian cải tạo, giáo dục, sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, bị cáo T giữ vai trò chính thực hiện việc phạm tội và phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ số lượng ma túy thu giữ được, bị cáo T1 thực hiện hành vi mua bán chất ma túy một lần bán 01 (một) gói ma túy cho Hà Giang S, gói ma túy có khối lượng 0,06g (không phẩy không sáu gam) nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi đã thực hiện của mình.
[4] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đó là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo cho thấy, các bị cáo trước khi phạm tội là lao động tự do không có công việc và thu nhập ổn định, đang bị tạm giam, không có tài sản riêng và khả năng thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo Lô Văn T Cơ quan điều tra Công an đã tiến hành điều tra, xác minh đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tại xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch, do đó không có căn cứ để điều tra xử lý theo quy định. Người thân trong gia đình của các bị cáo không biết sự việc các bị cáo cất giấu ma túy nhằm mục đích bán kiếm lời, do đó không xem xét xử lý trách nhiệm đối với người thân các bị cáo là đúng quy định.
Hành vi mua 01 (một) gói ma túy với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) để sử dụng của Hà Giang S, gói ma túy thu được có trọng lượng là 0,06g (không phẩy không sáu gam) S cùng Lương Văn L1 rủ nhau lên khu vực khe P để sử dụng, trong lúc sử dụng có Lô Văn S1 và Vi Văn T3 tình cờ đi qua xin sử dụng chung, qua xác minh các đối tượng sử dụng ma túy chưa có tiền án, tiền sự hay bị xử phạt hành chính về tội phạm liên quan đến ma túy, việc sử dụng ma túy là bộc phát nhằm thỏa mãn cơn nghiện không có sự bàn bạc, phân công hay rủ rê, lôi kéo nên hành vi không cấu thành tội phạm khác, do đó các đối tượng đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q ra quyết định xử phạt hành chính là đúng theo quy định của pháp luật.
[7] Về vật chứng: Khối lượng ma túy (Heroine) còn lại gồm 15g (mười lăm gam) là chất thuộc danh mục nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, lưu hành dưới mọi hình thức, cùng vật chứng gồm mảnh giấy viết màu trắng, 02 (hai) mảnh bao ni lông màu trắng cùng toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ đã được niêm phong lại theo quy định là những vật không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Số tiền 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) bị cáo Lò Văn T1 bán ma túy cho Hà Giang S là tiền do phạm tội mà có, do đó cần tịch thu từ bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định.
[8] Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lô Văn T 11 (mười một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 19/12/2023.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 19/12/2023.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu từ bị cáo Lò Văn T1 số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) là tiền do phạm tội mà có sung vào Ngân sách Nhà Nước.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư dán kín chứa 15g (mười lăm gam) heroine, các mảnh bao nilon màu trắng và toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ, là số vật chứng còn lại sau khi mở niêm phong xác định khối lượng, trích lấy mẫu giám định và niêm phong lại theo đúng quy định của pháp luật. Mặt trước phong bì ghi : “Mẫu vật chứng còn lại thuộc vụ Lô Văn T – Mua bán trái phép chất ma túy xảy ra ngày 19/12/2023 tại xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An”... và 01 (một) phong bì thư dán kín, chứa mảnh giấy viết màu trắng và toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ, là số vật chứng còn lại sau khi mở niêm phong xác định khối lượng trích lấy toàn bộ 0,06 gam heroine làm mẫu giám định và niêm phong lại theo đúng quy định của pháp luật. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng còn lại vụ Hà Giang S cùng đồng bọn – Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 18/12/2023 tại xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An”... (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao, nhận vật chứng, lập ngày 09/4/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An)
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Lô Văn T và Lò Văn T1 chịu án phí Hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Văn Đông |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lô Văn T đi mua ma túy về với mục đích chia nhỏ ra để bán lại cho những người nghiện kiếm tiền lời, sau đó có Lò Văn T1 đến nhà chơi sau khi nói chuyện biết T1 muốn có tiền tiêu xài nên T nói T1 cầm 03 gói nhỏ ma túy bán hộ mình tiền bán ma túy sẽ được chia đôi và T1 đồng ý, sau đó T1 sử dụng hết 02 gói còn lại 01 gói có trọng lượng 0,06g bán cho S được số tiền 200.000đ sau khi bị phát hiện lực lượng Công an đã tiến hành khám xét bắt khẩn cấp Lô Văn T thu giữ được 15,88g ma túy (heroine) đang cất giấu để bán.
