Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5- LÀO CAI

Bản án số: 30/2025/HS-ST

Ngày 27/11/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lường Thị Hoàn

Ông Thào A Trư

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bắc, Thư ký TAND khu vực 5

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 tham gia phiên tòa: Ông Lò Văn Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2025/TLST - HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

- Nguyễn Văn P. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 17/9/1983 tại xã L, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Hà Thị X, sinh năm 1964; Sống như vợ chồng với Trần Thị H và 01 con; Tiền án: Không. Tiền sự: Quyết định số 31/QĐ-TA ngày 26/01/2024 của TAND thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 01/02/2025 chấp hành xong).

Bị cáo bị giữ khẩn cấp, tạm giữ ngày 16/8/2025, tạm giam ngày 25/8/2025, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh L. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn P là người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo quyết định số 34/QĐ-UBND ngày 02/02/2025 của UBND xã S, thị xã N, tỉnh Yên Bái (cũ), thời gian bị quản lý là 02 năm kể từ ngày 02/02/2025 đến ngày 02/02/2027. Ngày 16/8/2025 Công an xã L triệu tập P đến làm việc và phối hợp với trạm y tế xã L tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của P cho kết quả dương tính. P khai nhận có mua ma túy loại Heroine để sử dụng, lần cuối sử dụng vào ngày 13/8/2025 tại nhà kho của gia đình P. Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản lấy mẫu nước tiểu của P gửi xét nghiệm.

Tại bản kết luận giám định số 1369/KL-KTHS ngày 18/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh P đã kết luận: Trong mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Văn P (thu ngày 16/8/2025) gửi giám định có chất ma túy, loại M, C; M và C là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể người. Heroine có tên khoa học là D, được qui định tại Bộ luật hình sự 2015 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Morphine là chất ma túy nằm trong danh mục IIA, số thứ tự 55 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Codeine là chất ma túy nằm trong danh mục IIB, số thứ tự 6 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Quá trình điều tra P khai nhận sử dụng ma túy từ năm 2021 nên đã bị đưa đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái với thời gian 12 tháng theo quyết định số 31/QĐ-TA ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, ngày 01/02/2025 chấp hành xong về địa phương và bị quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú nhưng P vẫn sử dụng lại ma túy. Ngày 11/8/2025 P đi đến khu vực sân vận động N gặp và mua của người đàn ông không quen biết đứng ven đường 01 đoạn ống nhựa màu trắng loại ống hút nước được hàn kín 2 đầu trong có chứa Heroine với giá 100.000đồng. Sau khi mua được ma túy P đem về nhà kho của gia đình thuộc thôn Đ xã L, cho ma túy lên tờ giấy bạc lấy từ bao thuốc lá rồi dùng bật lửa ga hơ nóng phía dưới để ma túy bốc khói rồi hít khói vào cơ thể qua đường mũi và miệng.

Khoảng 11 giờ ngày 13/8/2025 P tiếp tục đi xuống khu vực sân vận động N tìm và mua của người đàn ông đã bán Heroine ngày 11/8/2025, 01 ống ma túy giá 100.000đồng. Sau đó P đi về nhà và sử dụng tại nhà kho của gia đình bằng hình thức đốt ma túy lên rồi hít khói ma túy vào cơ thể qua đường mũi và miệng như cũ. Sau khi sử dụng xong P đốt ống nhựa, giấy bạc và vứt bật lửa đi. Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không thu giữ được.

Cáo trạng số: 04/CT-VKS-KV5 ngày 29 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lào Cai đã truy tố Nguyễn Văn P về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đã phân tích mục đích, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, giữ nguyên quan điểm của Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù;

Tại phiên tòa bị cáo khai đã thực hiện hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy đúng như Cáo trạng đã truy tố, không tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, điều luật, hình phạt và các vấn đề khác do Kiểm sát viên đề nghị. Lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, cũng như Kết luận xét nghiệm nước tiểu của bị cáo xác định có M và C là sản phẩm chuyển hóa của H1. Như vậy đã có đủ căn cứ chứng minh được sau khi bị cáo P chấp hành xong biện pháp Áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và bị quản lý sau cai nghiện theo quyết định số 34/QĐ-UBND ngày 02/02/2025 với thời gian 02 năm từ ngày 02/02/2025 đến ngày 02/02/2027 nhưng P vẫn không từ bỏ được ma túy, tiếp tục sử dụng. Ngày 11/8/2025 và ngày 13/8/2025 tại khu vực sân vận động N, P mua của người đàn ông không quen biết mỗi lần 01 gói ma túy loại Heroin với giá 100.000đồng sau đó đem về nhà kho của gia đình tại Thôn Đ, xã L, tỉnh Lào Cai sử dụng bằng hình thức cho ma túy lên tờ giấy bạc rồi dùng bật lửa hơ nóng phía dưới để cho ma túy bốc khói rồi hít khói vào cơ thể qua đường mũi và miệng. Hành vi đó của bị cáo đã vi phạm quy định của Luật phòng chống ma túy.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm chế độ thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bị cáo, đến sự phát triển bình thường của giống nòi dân tộc, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội vì nghiện ma túy là một trong những nguyên nhân trực tiếp gây ra các loại tội phạm khác. Với những hậu quả về tác hại của ma túy nên Nhà nước ta đã tuyên truyền giáo dục và quy định chế tài phạt nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì nhu cầu không lành mạnh của mình bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú nên đã phạm vào tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025).

[3] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo lần đầu phạm tội thuộc khung hình phạt cao nhất đến 03 năm tù nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; ngoài ra trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo cụ thể rõ ràng về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “người phạm tội thành khẩn khai báo”; các tình tiết giảm nhẹ áp dụng cho bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy, có 01 tiền sự chưa được xóa do bị áp dụng biện pháp Xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó xác định là người có nhân thân không tốt.

[4] Với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự thấy rằng cần phải áp dụng hình phạt tù, mức hình phạt tương ứng với tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, phạt bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam nhằm răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật và phòng ngừa tội phạm về ma túy. Hình phạt cũng tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện ma túy có hiệu quả.

[5] Về vật chứng và tài sản tạm giữ:

30ml nước tiểu của bị cáo đã được sử dụng làm mẫu giám định, không hoàn lại nên không phải xử lý.

[6] Về nguồn gốc ma túy, bị cáo khai mua Heroine của một người đàn ông không quen biết tại khu vực sân vận động N nhưng không rõ địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có đủ căn cứ để xác định là ai, do đó không có căn cứ để xử lý trong vụ án.

[7] Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025).
    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị giữ 16/8/2025.
  2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND KV 5 Lào Cai;
  • - Trại tạm giam số 2 LC
  • - VPCQCSĐT CA tỉnh LC;
  • - Phòng THADS khu vực 5 tỉnh Lào Cai;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Lào Cai;
  • - UBND xã Liên Sơn (TB);
  • - Bị cáo;
  • - THA HS; Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, TỈNH LÀO CAI về sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn P sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn bị quản lý sau cai nghiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger