Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30/6/2025

“V/v Ly hôn, nuôi con chung

khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Anh Nhinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Gia Thắng.

Bà Nguyễn Thị Kim Trình.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải Long – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trần Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:76/2025/TLST – HNGĐ, ngày 24 tháng 4 năm 2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 72/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh H - sinh năm 1988.

Địa chỉ: Khu M, xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Đồng Thị C - sinh năm 1994.

Nơi ĐKHKTT: Khu M, xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Nơi ở hiện nay: Khu I, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

(Các đương sự đều có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn – Anh Nguyễn Minh H trình bày:

Anh và chị C tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn năm 2015 tại UBND xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau kết hôn vợ chồng thuê nhà ra ở riêng. Vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2020 thì sẩy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, do chị C chơi bời dẫn đến nợ nần từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng. Và mâu thuẫn giữa chị C và mẹ chồng thường xuyên xẩy ra. Khi mâu thuẫn vợ chồng xẩy ra, hai bên cũng đã tìm biện pháp để khắc phục, nhưng không có kết quả. Anh H và chị C đã sống ly thân từ tháng 02/2025 không còn quan tâm đến nhau. Anh thấy tình cảm vợ chồng giữa anh và chị C không còn, anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh và chị C được ly hôn.

Về con chung:

Anh Nguyễn Minh H xác nhận vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 30/12/2015, cháu Nguyễn Yến N sinh ngày 29/11/2018 và cháu Nguyễn Minh Q sinh ngày 27/5/2021. Hiện nay cháu N và cháu L đang ở cùng với anh H và bố mẹ anh H, còn cháu Q đang ở với chị C. Khi ly hôn anh xin H được nuôi cháu L và cháu N, đồng ý giao cho chị C được nuôi cháu Q. Anh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Q cùng chị C 2.000.000đ /1 tháng (Hai triệu đồng). Hiện nay anh H đang làm đầu bếp, thu nhập 19.000.000đ/ tháng (Mười chín triệu đồng). Anh H và 02 con đang ở cùng với bố mẹ đẻ anh H, ông bà có nhà ở kiên cố rộng rãi. Bố mẹ anh còn khoẻ mạnh vẫn giúp đỡ anh trong việc đưa đón các cháu đi học.

Về tài sản chung:

Anh Nguyễn Minh H xác nhận là vợ chồng có tài sản chung là 02 xe mô tô, khi ly hôn anh chị tự thoả thuận không đề nghị Toà án giải quyết.

Về nợ chung, công sức đóng góp, tư trang riêng:

Anh Nguyễn Minh H xác nhận vợ chồng không có, ly hôn không đề nghị Toà án giải quyết.

Bị đơn chị Đồng Thị C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị C xác nhận về quá trình kết hôn, chung sống và mâu thuẫn vợ chồng như anh H trình bày là đúng, Chị xác nhận tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H không còn, nay anh H xin ly hôn chị đồng ý, để giải phóng cho hai bên ổn định cuộc sống.

Về con chung:

Chị Đồng Thị C xác nhận vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 30/12/2015, cháu Nguyễn Yến N sinh ngày 29/11/2018 và cháu Nguyễn Minh Q sinh ngày 27/5/2021. Hiện nay cháu N và cháu L đang ở cùng với anh H và bố mẹ anh H tại xã Y, huyện T, còn cháu Q đang ở với chị C tại khu I, xã Q, huyện T. Trong quá trình tố tụng tại Toà án, chị C xin được nuôi cháu N và đồng ý giao cho anh H được nuôi cháu L và cháu Q. Tại phiên toà chị C đề nghị HĐXX giao cho chị được nuôi cháu L hoặc cháu N, chị đồng ý giao cho anh H được nuôi dưỡng chăm sóc 02 con chung, và tự nguyện không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị. Hiện chị H đang làm công nhân tại khu công nghiệp P, thị xã P thu nhập bình quân 9.000.000đ/ tháng (Chín triệu đồng).

Về tài sản chung:

chị Đồng Thị C xác nhận là vợ chồng có tài sản chung là 02 xe mô tô, như anh H trình bày là đúng. Khi ly hôn anh chị tự thoả thuận không đề nghị Toà án giải quyết.

Về nợ chung, công sức đóng góp, tư trang riêng:

chị Đồng Thị C đều xác nhận vợ chồng không có, ly hôn không đề nghị Toà án giải quyết.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật:

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử - Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyên Minh H1 và chị Đồng Thị C.Về con chung: Giao cho anh H1 được nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục cháu cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 30/12/2015 và cháu Nguyễn Yến N sinh ngày 29/11/2018 ; giao cho chị C được nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục cháu Nguyễn Minh Q sinh ngày 27/5/2021, kể từ tháng 6/2024 cho đến khi các con chung thành niên. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản chung, công nợ và công sức đóng góp, tư trang riêng: anh H1 và chị C đều không đề nghị giải quyết nên không xem xét.

Về án phí:

Anh Nguyễn Minh H phải tự nộp toàn bộ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Anh Nguyễn Minh H khởi kiện xin ly hôn chị Đồng Thị C, đây là tranh chấp về Hôn nhân gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. anh H và chị C đều có nơi ĐKNKTT tại xã Y, huyện T, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Minh H và chị Đồng Thị Chung kết H2 với nhau, trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ năm 2015 là phù hợp với luật hôn nhân gia đình Việt Nam. Sau kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân của sự mâu thuẫn cả anh H và chị C đều xác nhận vợ chồng không hòa hợp về mọi mặt nên thường xuyên cãi vã, cuộc sống gia đình không hạnh phúc, hai bên không còn tin tưởng và tôn trọng nhau. Vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Anh H làm đơn xin ly hôn, chị C đồng ý để giải phóng cho cả hai.

Sự thừa nhận của các đương sự về mâu thuẫn vợ chồng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã chứng minh: Tình trạng hôn nhân giữa anh H và chị C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, việc thuận tình ly hôn giữa anh H và chị C là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Minh H và chị Đồng Thị C là có căn cứ quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

[3] Về con chung: Anh Nguyễn Minh H và chị Đồng Thị C đều xác nhận vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 30/12/2015, cháu Nguyễn Yến N sinh ngày 29/11/2018 và cháu Nguyễn Minh Q sinh ngày 27/5/2021. Hiện nay cháu N và cháu L đang ở cùng với anh H và bố mẹ anh H tại xã Y, huyện T, còn cháu Q đang ở với chị C tại khu I, xã Q, huyện T. Quá trình tố tụng tại Tòa án, anh H xin được nuôi cháu L và cháu N, đồng ý giao cho chị C được nuôi cháu Q. Hai bên không phải cấp dưỡng cho nhau. Chị C đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và đồng ý giao cho anh H được nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục cháu L và cháu Q và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Tại phiên Toà chị C đề nghị HĐXX cho chị được nuôi cháu L hoặc cháu N, chị Đồng ý giao cho anh H được nuôi dưỡng 02 con chung. Chị tự nguyện không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị. HĐXX xét thấy nguyện vọng xin được nuôi con của cả hai bên đều chính đáng, Anh H3 và chị C đều có đủ điều kiện để chăm sóc và nuôi dạy con chung, xong xét về điều kiện, hoàn cảnh chăm sóc và nuôi dạy con chung của từng bên thấy rằng: Anh H3 đang làm đầu bếp tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ, thu nhập 19.000.000đ/ 1 tháng, hàng tháng anh đều dành thời gian về nhà để chăm sóc con, thăm gia đình, có trách nhiệm trong việc nuôi con chung. Anh ở chung với bố mẹ đẻ có nhà ở kiên cố, rộng rãi, bố mẹ anh còn khỏe có thể hỗ trợ anh việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi anh bận công việc. Hiện nay cháu L và cháu N đang ở cùng anh và bố mẹ anh, cháu đang theo học tại trường tiểu học xã Y, huyện T.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cũng lấy lời khai của bố đẻ anh H3 là ông Nguyễn Xuân N1, ông N1 cũng thừa nhận vợ chồng anh H3 và chị C sống không hạnh phúc. Hiện nay cháu Nguyễn Thùy L và cháu Nguyễn Yến N đang ở cùng với anh H3 và gia đình nhà ông, được cả gia đình chăm sóc, nuôi dưỡng, ăn học đầy đủ. Quan điểm của gia đình ông sẽ tạo mọi điều kiện tốt nhất, cùng anh H3 chăm lo cho cháu L và cháu N khôn lớn, trưởng thành.

Về hoàn cảnh chị C: Khi mâu thuẫn vợ chồng giữa chị và anh H3 xẩy ra, chị C đã đưa cháu Q về ở cùng chị tại khu I, xã Q, huyện T. Hiện nay cháu Q vẫn đang ở cùng chị và được chị chăm sóc, nuôi dưỡng từ khi vợ chồng chị C, anh H3 sống ly thân.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc nuôi con chung là quyền và trách nhiệm của bố mẹ. Mục đích của việc cha mẹ xin được nuôi con chung cơ bản đều là nhằm mang lại những điều kiện tốt nhất để cho con phát triển. Thực tế cháu L và cháu N đang ở với anh H3 và gia đình anh H3, đang quen nếp ăn ở, sinh hoạt, môi trường sống chung với gia đình, đang học hành ổn định. Cháu Q nhỏ hơn, lại không được khỏe nên rất cần sự chăm sóc, ân cần của người mẹ, thực tế hiện nay cháu Q đang ở cùng với chị C từ khi vợ chồng sống ly thân. Tại Điều 6 - Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán toà án nhân dân Tối cao. Khi xem xét “Quyền lợi về mọi mặt của con” quy định tại khoản 2 Điều 81- Luật Hôn nhân gia đình, phải đánh giá khách quan toàn diện các tiêu chí như đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con. Từ những phân tích trên, HĐXX thấy rằng: Cần giao cho anh H3 được nuôi dưỡng cháu L và cháu N; giao cho chị C được nuôi cháu Q là phù hợp với thực tế, phù hợp với hoàn cảnh của từng người, không làm xáo trộn cuộc sống ảnh hưởng đến tâm lý của các cháu và cũng tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của các cháu. Anh H3 và chị C không bên nào có yêu cầu cấp dưỡng về nuôi con chung nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Anh H3 và chị C đều xác nhận vợ chồng có tài sản chung, ly hôn anh chị tự thỏa thuận không đề nghị Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[5] Về nợ chung, công sức đóng góp, tư trang riêng: Anh H3 và chị C đều xác nhận không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên cần chấp nhận.

[7] Về án phí: Anh Nguyễn Minh H tự nguyện nộp toàn bộ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Minh H và chị Đồng Thị C.
  2. Về con chung: Giao con chung là là cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 30/12/2015 và cháu Nguyễn Yến N sinh ngày 29/11/2018 cho anh Nguyễn Minh H được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, kể từ tháng 6/2025 đến khi các cháu thành niên; Giao cháu Nguyễn Minh Q sinh ngày 27/5/2021 cho chị Đồng Thị C được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, kể từ tháng 6/2025 đến khi cháu Q thành niên, tự lực được. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ với con chung, không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Anh Nguyễn Minh H tự nguyện nộp toàn bộ 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh H đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0001921 ngày 29/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn.

    Hoàn trả cho anh Nguyễn Minh H 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp.

  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKS huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND xã Yên Sơn;
  • - Lưu HS + VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đào Thị Anh Nhinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Minh H và chị Đồng Thị C.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger